Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi tại Việt Nam là một trong những lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao, đóng góp quan trọng trong tỷ trọng 20% GDP của khu vực nông nghiệp - nông thôn. Cùng với sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm về cả số lượng lẫn chất lượng, quy mô và mật độ đàn gia súc, gia cầm phát triển nhanh chóng nhưng chủ yếu vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán trong các khu dân cư đông đúc. Tình trạng này dẫn đến lượng chất thải phát sinh lớn không được kiểm soát và xử lý đồng bộ, khiến mức độ nhiễm khuẩn trong chuồng nuôi cao gấp nhiều lần so với môi trường bên ngoài, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, đồng thời làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh và chi phí thú y.

Tại xã Dũng Liệt (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh), chăn nuôi gia cầm đang phát triển mạnh với 28 trang trại quy mô từ 2.000 đến 4.000 con/trại cùng nhiều hộ nuôi vừa và nhỏ. Tuy nhiên, địa phương chưa hình thành quy trình thống nhất về thời gian và kỹ thuật thu gom, xử lý phân gà. Trung bình một con gà trưởng thành thải ra môi trường khoảng 115 g phân và nước tiểu mỗi ngày đêm (trong đó nước chiếm khoảng 86,25 g). Lượng phân tươi này thường được thu gom định kỳ 15–30 ngày một lần rồi bón trực tiếp cho cây trồng khi các chất dinh dưỡng (N, P, K) còn ở dạng hợp chất hữu cơ chưa phân giải, vừa giảm hiệu quả hấp thu của cây vừa phát tán khí độc và mầm bệnh ra môi trường. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài được thực hiện nhằm ứng dụng công nghệ vi sinh vật hữu hiệu xử lý chất thải tại chỗ.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  • Mục tiêu chung:
    1. Xác định khả năng ứng dụng chế phẩm sinh học hữu hiệu E.M2 trong xử lý chất thải chăn nuôi.
    2. Ứng dụng rộng rãi chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu trong chăn nuôi và xử lý chất thải.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Tiến hành điều tra, thu thập số liệu thông tin về tình hình sản xuất chăn nuôi tại địa phương.
    2. Triển khai mô hình đệm lót sinh học xử lý chất thải chăn nuôi gà.
    3. Đánh giá hiệu quả của chế phẩm thông qua việc bố trí các mô hình thí nghiệm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình và trang trại chăn nuôi gà; hiệu quả của các mô hình làm đệm lót sinh học bằng chế phẩm E.M2 trong chăn nuôi gà.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ ngày 03/02/2015 đến ngày 11/05/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở khoa học

Đề tài dựa trên cơ sở khoa học của công nghệ vi sinh vật hữu hiệu EM (Effective Microorganisms) do Giáo sư, Tiến sĩ Teruo Higa (Trường Đại học Tổng hợp Ryukyus, Okinawa, Nhật Bản) sáng tạo từ đầu những năm 1980. Bản chất của công nghệ EM là tổ hợp cộng sinh của khoảng 80 đến 120 loài vi sinh vật kỵ khí và hiếu khí, chia thành 5 nhóm chức năng chính:

  • Vi khuẩn lactic: Lên men kỵ khí đường và hydrat cacbon, tích lũy axit lactic tạo môi trường khử trùng mạnh, tiêu diệt vi sinh vật gây hại, phân cắt cellulose và ức chế nấm gây bệnh Fusarium.
  • Vi khuẩn quang hợp: Nhóm tự dưỡng quang năng giữ vai trò chủ đạo, sử dụng ánh sáng mặt trời tổng hợp axit amin, hormone tăng trưởng và đường, đồng thời tạo chất nền dinh dưỡng cho các nhóm vi sinh vật cộng sinh khác.
  • Xạ khuẩn: Phân giải các hợp chất hữu cơ phức tạp như cellulose, tinh bột; sản sinh chất kháng sinh tự nhiên để tiêu diệt nấm và vi khuẩn có hại trong môi trường đất và chất độn.
  • Nấm men: Đơn bào tham gia chuyển hóa vật chất, tổng hợp vitamin, enzym và axit amin thiết yếu kích thích tế bào hoạt động và cung cấp thức ăn cho vi khuẩn lactic và xạ khuẩn.
  • Vi khuẩn Bacillus: Cạnh tranh sinh học làm giảm vi khuẩn gây hại, tiết enzym amylase và protease phân giải nhanh protein và tinh bột dư thừa trong chất thải chăn nuôi.

Chế phẩm E.M2 được sản xuất bằng quá trình lên men kỵ khí từ E.M gốc (tại Việt Nam ứng dụng chủng EMINA do Viện Sinh học Nông nghiệp phân lập và sản xuất). Khi kết hợp E.M2 với chất độn chuồng (trấu, mùn cưa), đệm lót sinh học đảm nhận 4 vai trò: hút ẩm từ phân làm giảm lượng phân từ 115 g xuống còn khoảng 29 g; giảm mật độ vi sinh vật gây bệnh qua tập tính bới của gà; lên men chậm sản sinh lượng nhỏ amoniac diệt khuẩn; điều hòa nhiệt độ và duy trì độ ẩm tối ưu trong chuồng từ 25% đến 30%.

Cơ sở pháp lý của đề tài căn cứ vào: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Nghị định số 18/2015/NĐ-CP; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP; Thông tư số 07/2007/TT-BTN&MT; Thông tư số 04/2010/TT-BNN&PTNT (ban hành QCVN 01-15:2010/BNN&PTNT); Thông tư số 71/2011/TT-BNN&PTNT; Quyết định số 1504/QĐ-BNN&PTNT; cùng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chuyên ngành (QCVN 01-39:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-79:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-80:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-81:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-82:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-83:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-100:2012/BNN&PTNT).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, thực nghiệm hiện trường và điều tra xã hội học:

  1. Thu thập thông tin thứ cấp: Số liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và báo cáo hiện trạng chăn nuôi gia súc, gia cầm từ Ủy ban nhân dân xã Dũng Liệt năm 2014.
  2. Quy trình kỹ thuật ủ E.M2 và làm đệm lót:
    • Ủ E.M2: Phối trộn theo công thức 100 ml E.M gốc + 100 ml rỉ đường (hoặc 100 mg đường đỏ) + 1.800 ml nước sạch để thu được 2.000 ml dung dịch; ủ kỵ khí trong thùng tối từ 5–7 ngày (mùa đông) hoặc 4–5 ngày (mùa hè) cho tới khi pH đạt từ 3,5–4,5, dung dịch màu vàng cánh gián, mùi thơm chua ngọt.
    • Tạo đệm lót (diện tích 30–50 m²): Rải trấu dày khoảng 10 cm; phun hỗn hợp gồm 2 kg rỉ đường + 5 lít E.M2 + 30–40 lít nước sạch đạt độ ẩm 30–35%; gom đống ủ bạt từ 5–7 ngày (mùa đông) hoặc 3–4 ngày (mùa hè) rồi san đều trước khi thả gà.
    • Bảo dưỡng: Cào xới mặt đệm lót định kỳ 2–5 ngày/lần (cách nền chuồng 2 cm); rắc bổ sung men ủ sau mỗi 20 ngày với định mức 50%/m² sàn.
  3. Bố trí mô hình thực nghiệm:
    • Mô hình 1: Trại gà Ngô Đức Cường (thôn Lạc Trung), diện tích chuồng nuôi 80 m², nuôi gà đẻ trứng giai đoạn úm gà con.
    • Mô hình 2: Trại gà Ngô Đức Cường (thôn Lạc Trung), diện tích chuồng nuôi 50 m², nuôi gà đẻ trứng giai đoạn hậu bị.
    • Mô hình 3: Trại gà Dương Thọ Quảng (thôn Lạc Trung), diện tích chuồng nuôi 100 m², nuôi gà đẻ trứng giai đoạn úm gà con.
  4. Phương pháp lấy mẫu và phân tích:
    • Lấy mẫu phân hỗn hợp: Thu 9 mẫu tại 3 mô hình (mỗi mô hình lấy 3 vị trí theo đường chéo, mỗi điểm lấy khoảng 200 g phân). Trộn đều 9 mẫu, chia góc chéo lấy 2 phần đối diện để thu 200 g mẫu hỗn hợp đại diện.
    • Chỉ tiêu phân tích theo tiêu chuẩn: Độ ẩm theo TCVN 4326:2007; Tổng Nitơ (T-N) theo TCVN 4328:2007; Tổng Photpho (T-P) theo TCVN 1525:2011; Tổng Kali (T-K) theo TCVN 8660:2011; Vi khuẩn Coliform theo TCVN 4882:2007; Vi khuẩn E. coli theo phương pháp Quinn P.J et al.
  5. Phương pháp điều tra xã hội học và xử lý số liệu:
    • Phỏng vấn ngẫu nhiên 60 người dân chăn nuôi gà và chủ hộ tham gia mô hình sau 3 tháng triển khai thực tế.
    • Xử lý, thống kê và lập bảng biểu bằng phần mềm Microsoft Office 2010 (Excel, Word).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chăn nuôi gia cầm nông hộ phát triển nhanh nhưng thiếu quy hoạch, dẫn đến ô nhiễm môi trường sống và nguy cơ dịch bệnh. Tác giả xác định rõ 2 mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, 4 yêu cầu kỹ thuật và phân tích ý nghĩa khoa học cùng ý nghĩa thực tiễn của giải pháp đệm lót sinh học bằng chế phẩm E.M2 trong giảm thiểu mùi hôi, phòng trừ mầm bệnh và tận dụng phụ phẩm phân bón hữu cơ.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương tổng quan hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về môi trường, chất thải chăn nuôi và công nghệ vi sinh vật hữu hiệu. Nội dung làm rõ cấu trúc 5 nhóm vi sinh vật trong chế phẩm EM, cơ chế cộng sinh hỗ trợ lẫn nhau, 3 nguyên lý khoa học khai thác năng lượng tự nhiên và phân giải hữu cơ, nguyên lý sản xuất E.M2 thứ cấp. Chương này cũng phân tích 2 đặc điểm phân biệt giữa EM với các chế phẩm đơn dòng khác (tính đa chủng cộng hưởng và khả năng thích nghi môi trường khắc nghiệt). Bên cạnh đó, tác giả tổng hợp khung cơ sở pháp lý về bảo vệ môi trường nông nghiệp, lịch sử 20 năm phát triển công nghệ EM trên thế giới và quá trình chuyển giao, nghiên cứu chế phẩm EM tại Việt Nam từ thập niên 1990 đến việc chế tạo thành công chế phẩm EMINA.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng, phạm vi, địa điểm và khung thời gian nghiên cứu (tháng 02/2015 đến tháng 05/2015 tại xã Dũng Liệt). Tác giả thiết kế 3 nội dung nghiên cứu thực nghiệm bao gồm: quy trình công nghệ pha chế E.M2 và các bước làm đệm lót sinh học trên trấu; cách thức thiết lập 3 mô hình thí nghiệm thực tế tại thôn Lạc Trung; quy trình lấy mẫu phân hỗn hợp theo đường chéo và các tiêu chuẩn phân tích lý - hóa - sinh (TCVN); phương pháp điều tra lấy ý kiến 60 hộ chăn nuôi và quy trình xử lý số liệu thống kê.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Chương kết quả phản ánh toàn bộ dữ liệu khảo sát và thực nghiệm:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Xã Dũng Liệt có diện tích tự nhiên 826 ha, dân số 2.065 hộ với 8.996 nhân khẩu (100% dân tộc Kinh), chia thành 5 thôn: Lạc Trung, Chân Lạc, Phụ Yên, Phụ Gầm và Lương Gầm. Nền kinh tế thuần nông với nông - thủy sản chiếm 79,2%, tiểu thủ công nghiệp 16,5%, thương mại - dịch vụ 4,3%. Diện tích gieo trồng năm 2014 là 976,1 ha (lúa 890,4 ha, năng suất 57,1 tạ/ha).
  • Hiện trạng chăn nuôi và xử lý chất thải: Toàn xã có 28 trang trại gà quy mô 2.000–4.000 con/trại cùng nhiều hộ nhỏ lẻ. Trong khi chất thải chăn nuôi lợn được xử lý một phần bằng hệ thống Biogas hoặc ủ phân truyền thống, chất thải chăn nuôi gà hoàn toàn chưa có quy trình xử lý thống nhất. Người nuôi thu gom phân định kỳ 15–20 ngày/lần đối với gà đẻ hoặc 30 ngày/lần đối với gà thịt rồi đem bón trực tiếp cho cây trồng, gây ô nhiễm không khí và tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh.
  • Kết quả triển khai mô hình: Cả 3 mô hình ban đầu tại hộ chú Cường và chú Quảng đều vận hành ổn định. Quá trình triển khai đã thu hút và nhân rộng thêm mô hình đệm lót sinh học tại 3 hộ gia đình khác: hộ ông Nguyễn Công Bẩy (80 m² sàn chuồng), hộ ông Ngô Khánh Phong (135 m² sàn chuồng) và hộ ông Dương Thọ Ngạn (100 m² sàn chuồng).
  • Đánh giá các chỉ tiêu xử lý chất thải: Về cảm quan vật lý, phân gà có màu sáng hơn rõ rệt so với chuồng đối chứng không dùng đệm lót; mùi hắc và mùi hôi thối đặc trưng của các khí bay hơi (H₂S, SO₂, NH₃, CH₄) giảm rõ rệt. Về độ ẩm, dữ liệu thực nghiệm ghi nhận độ ẩm phân gà giảm mạnh từ 44,72% trước khi xử lý xuống còn 30,30% sau khi qua đệm lót sinh học E.M2 (giảm 14,42%). Đồng thời, tác giả phản ánh kết quả đánh giá xã hội học của 60 người dân về mức độ cải thiện môi trường không khí xung quanh chuồng và phân tích chi phí - lợi ích khi ứng dụng mô hình.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tóm tắt kết luận về thực trạng chăn nuôi, tác động ô nhiễm của chất thải gia cầm tại xã Dũng Liệt và khẳng định hiệu quả kỹ thuật của chế phẩm E.M2 trong việc làm khô ráo nền chuồng, giảm mùi hôi và xử lý phân tại chỗ. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền cơ sở và cơ quan khuyến nông nhằm hỗ trợ kỹ thuật, nhân rộng mô hình đệm lót sinh thái cho các hộ chăn nuôi trên địa bàn.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng và định tính cụ thể dựa trên số liệu thực nghiệm tại xã Dũng Liệt:

Bảng: Biến thiên độ ẩm phân gà trước và sau khi sử dụng đệm lót sinh học E.M2

Thời điểm theo dõi Tỷ lệ độ ẩm (%) Mức độ suy giảm (%) Tình trạng nền chuồng và cảm quan phân gà
Trước khi xử lý 44,72 - Phân ướt, dính bết, màu tối sẫm, phát sinh mùi hôi thối nồng nặc và khí hắc khó chịu.
Sau khi xử lý E.M2 30,30 Giảm 14,42 Phân tơi xốp, màu sáng hơn, bề mặt chuồng khô ráo, mùi hôi thối và khí hắc giảm rõ rệt.

Bên cạnh chỉ tiêu độ ẩm, mô hình ghi nhận các kết quả thực tế:

  • Khối lượng phân và nước tiểu thải ra của gà sau khi qua lớp chất độn hút ẩm giảm từ khoảng 115 g xuống còn xấp xỉ 29 g/con/ngày đêm, ngăn chặn hiện tượng đóng bánh trên mặt sàn chuồng nuôi.
  • Cải thiện rõ rệt vi khí hậu chuồng nuôi thông qua việc triệt tiêu điều kiện lên men sinh khí độc (H₂S, SO₂, NH₃, CH₄), giảm stress cho đàn gia cầm và hạn chế nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp, tiêu chảy, cầu trùng.
  • Nhân rộng thành công từ 3 mô hình ban đầu (tổng diện tích 230 m²) sang thêm 3 hộ dân khác trên địa bàn xã với tổng diện tích mở rộng đạt 315 m² (hộ ông Nguyễn Công Bẩy 80 m², hộ ông Ngô Khánh Phong 135 m², hộ ông Dương Thọ Ngạn 100 m²).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Đề xuất quy trình chuẩn hóa kỹ thuật làm đệm lót sinh học bằng E.M2 với nguyên liệu phụ phẩm nông nghiệp sẵn có (trấu, mùn cưa, rỉ đường) phù hợp với quy mô nông hộ và trang trại vừa.
  • Tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật bảo dưỡng đệm lót: cào xới định kỳ 2–5 ngày/lần, cào nông cách đáy chuồng 2 cm để tránh làm xáo trộn lớp men kỵ khí đáy; bổ sung chế phẩm men định kỳ 20 ngày/lần (tỷ lệ 50%/m²); kiểm soát khu vực máng uống không để rò rỉ nước làm ướt cục bộ đệm lót.
  • Kiến nghị chính quyền địa phương và cơ quan khuyến nông tăng cường công tác tập huấn, phổ biến kiến thức an toàn sinh học và hỗ trợ tiếp cận chế phẩm sinh học cho người chăn nuôi gia cầm.

Đóng góp của khóa luận: Tác giả đã cung cấp các dẫn liệu thực nghiệm hiện trường có giá trị thực tiễn về khả năng xử lý chất thải chăn nuôi gà bằng công nghệ E.M2 tại địa phương thuần nông; chứng minh giải pháp đệm lót sinh thái giúp giảm thiểu chi phí dọn dẹp vệ sinh chuồng trại, không tiêu tốn nước rửa chuồng như nuôi trên sàn bê tông, đồng thời mở ra hướng tái tạo nguồn phân bón hữu cơ an toàn cho cây trồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Thời gian thực hiện tương đối ngắn (khoảng hơn 3 tháng, từ tháng 02/2015 đến tháng 05/2015), chưa theo dõi xuyên suốt toàn bộ chu kỳ sinh trưởng kéo dài của nhiều lứa gà khác nhau hoặc qua các mùa thời tiết khắc nghiệt chuyển từ hè sang đông.
    • Phạm vi khảo sát xã hội học mới dừng lại ở quy mô mẫu ngẫu nhiên 60 người dân tại một xã thuần nông (xã Dũng Liệt), chưa đại diện cho các vùng sinh thái chăn nuôi tập trung quy mô lớn của toàn tỉnh Bắc Ninh.
    • Trong tài liệu trích xuất, số liệu phòng thí nghiệm chi tiết về các chỉ tiêu hóa học (tổng N, P, K) và vi sinh vật (E. coli, Coliform) chưa được trình bày đầy đủ thành các bảng định lượng chi tiết như chỉ tiêu độ ẩm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng theo dõi biến động chất lượng đệm lót sinh học trong thời gian sử dụng kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm.
    • Nghiên cứu định lượng chi tiết mật độ vi sinh vật gây bệnh (E. coli, Coliform, Salmonella) và kiểm nghiệm hàm lượng dinh dưỡng hữu cơ của lớp đệm lót sau khi thải loại để phục vụ quy chuẩn phân bón hữu cơ vi sinh.
    • Đánh giá toàn diện bài toán kinh tế - kỹ thuật giữa chi phí đầu tư đệm lót và lợi ích cắt giảm chi phí thuốc thú y, nhân công trên các quy mô trang trại quy chuẩn công nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Nông học, Chăn nuôi - Thú y tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu hiện trường, lấy mẫu thí nghiệm theo TCVN và khảo sát xã hội học.
  • Cán bộ khuyến nông, nhà quản lý môi trường tại các địa phương đang tìm kiếm giải pháp kỹ thuật thân thiện môi trường để xử lý ô nhiễm mùi hôi và chất thải chăn nuôi gia cầm tại các vùng nông thôn mới.
  • Các chủ hộ gia đình, chủ trang trại chăn nuôi gà thịt và gà đẻ trứng có nhu cầu áp dụng trực tiếp quy trình tự ủ chế phẩm thứ cấp E.M2 và quy trình làm đệm lót sinh học từ trấu, mùn cưa nhằm giảm chi phí sản xuất và nhân công lao động.

Phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận là quy trình kỹ thuật từng bước ủ dung dịch thứ cấp E.M2 từ E.M gốc và quy trình thiết lập, quản lý, bảo dưỡng đệm lót sinh thái hiện trường (Phần 3 và Phần 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phối trộn nguyên liệu để sản xuất dung dịch thứ cấp E.M2 từ E.M gốc được tác giả hướng dẫn như thế nào? Theo quy trình trong văn bản, để tạo ra 2.000 ml dung dịch E.M2, tỷ lệ phối trộn gồm: 100 ml chế phẩm E.M gốc (EMINA) + 100 ml rỉ đường (hoặc 100 mg đường đỏ hòa tan) + 1.800 ml nước sạch. Hỗn hợp được chứa trong can hoặc thùng nhựa tối màu, đậy kín nắp và ủ lên men kỵ khí từ 5–7 ngày (mùa đông) hoặc 4–5 ngày (mùa hè). Sản phẩm đạt yêu cầu khi có độ pH từ 3,5–4,5, dung dịch màu vàng cánh gián, mùi thơm chua ngọt.

2. Quy trình làm đệm lót sinh học bằng E.M2 cho diện tích chuồng gà từ 30–50 m² gồm những bước nào? Quy trình gồm 4 bước kỹ thuật:

  • Bước 1: Rải đều lớp trấu lên toàn bộ nền chuồng với độ dày khoảng 10 cm.
  • Bước 2: Pha hỗn hợp gồm 2 kg rỉ đường + 5 lít chế phẩm E.M2 + 30–40 lít nước sạch, phun đều lên bề mặt đệm lót để đạt độ ẩm 30–35% (kiểm tra nắm trấu thấm ẩm nhưng vẫn tơi rời).
  • Bước 3: Gom toàn bộ đệm lót lại, đậy kín bằng bạt và ủ trong 5–7 ngày (mùa đông) hoặc 3–4 ngày (mùa hè).
  • Bước 4: San đều đệm lót ra khắp mặt chuồng và tiến hành thả gà vào nuôi.

3. Hiệu quả giảm độ ẩm của phân gà sau khi áp dụng mô hình đệm lót sinh học E.M2 đạt kết quả cụ thể ra sao? Kết quả phân tích mẫu phân tại thực nghiệm cho thấy độ ẩm của phân gà trước khi sử dụng chế phẩm đệm lót là 44,72%. Sau khi được xử lý bằng đệm lót sinh học E.M2, độ ẩm giảm xuống còn 30,30%, tương ứng mức suy giảm 14,42%. Độ ẩm này nằm trong khoảng tối ưu (25–30%), giúp nền chuồng luôn khô ráo và duy trì quá trình lên men ổn định.

4. Chế phẩm EM bao gồm những nhóm vi sinh vật nào và cơ chế khử mùi hôi chuồng trại hoạt động ra sao? Chế phẩm EM là tập hợp từ 80 đến 120 loài vi sinh vật thuộc 5 nhóm: vi khuẩn lactic, vi khuẩn quang hợp, xạ khuẩn, nấm men và vi khuẩn Bacillus. Các vi sinh vật này hoạt động tương hỗ, tiết ra các enzym protease, amylase cùng các axit hữu cơ và chất kháng sinh tự nhiên để phân giải nhanh chất hữu cơ, cạnh tranh và tiêu diệt các vi khuẩn gây thối rữa đường ruột và môi trường, từ đó triệt tiêu quá trình sinh các khí độc bay hơi như H₂S, SO₂, NH₃ và CH₄.

5. Thực trạng xử lý chất thải chăn nuôi gà tại xã Dũng Liệt trước khi nghiên cứu được triển khai có đặc điểm gì? Trước khi đề tài được thực hiện, xã Dũng Liệt có 28 trang trại gà quy mô 2.000–4.000 con/trại nhưng địa phương hoàn toàn chưa có quy trình thống nhất về thời gian và phương pháp thu gom, xử lý phân gà. Các hộ chăn nuôi tự quyết định thời gian thu gom (trại gà thịt khoảng 30 ngày/lần, gà đẻ khoảng 15–20 ngày/lần, hộ nhỏ lẻ không kiểm soát) rồi đem bón trực tiếp cho cây trồng mà không qua xử lý ủ hoai, làm phát tán mùi hôi và lây lan dịch bệnh.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Ngô Bá Ngân đã khảo sát và đánh giá toàn diện hiện trạng chất thải chăn nuôi gia cầm tại xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, qua đó chỉ rõ tính cấp thiết của việc áp dụng các biện pháp sinh học xử lý tại chỗ. Thông qua việc xây dựng 3 mô hình đệm lót sinh học sử dụng chế phẩm E.M2 và nhân rộng thêm 3 hộ dân, nghiên cứu chứng minh đệm lót trấu bổ sung vi sinh vật giúp hạ độ ẩm phân gà từ 44,72% xuống 30,30%, làm khô thoáng chuồng nuôi và triệt giảm mùi hôi khí độc. Các giải pháp kỹ thuật pha chế, bảo dưỡng đệm lót cùng hệ thống kiến nghị chính sách trong đề tài có tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho định hướng phát triển chăn nuôi an toàn sinh học và bảo vệ môi trường nông thôn bền vững.