mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận: trình bày những vấn đề lý luận trong nghiên cứu về công cụ sàng lọc. Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu: trình bày về công cụ nghiên cứu, phƣơng pháp và tổ chức nghiên cứu. Chƣơng 3 : Kết quả nghiên cứu: Trình bày những kết quả nghiên cứu đạt đƣợc. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Lịch sử nghiên cứu về độ hiệu lực của các thang đo trong đánh giá và chẩn đoán các vấn đề sức khỏe tâm thần 1. Lịch sử nghiên cứu về độ hiệu lực của các thang đo trên thế giới Trên thế giới từ nửa sau thế kỷ 20 đã bắt đầu xuất hiện những lý thuyết đầu tiên về độ hiệu lực. Cronbach (1971) đã mô tả độ hiệu lực là một quá trình mà ngƣời xây dựng công cụ đo hoặc ngƣời sử dụng công cụ đo thu thập bằng chứng để từ đó rút ra kết luận từ điểm số thu đƣợc. Ông cho rằng để lên kế hoạch cho một nghiên cứu về độ hiệu lực thì suy luận muốn chứng minh cần phải đƣợc xác định rõ ràng.
Sau đó một nghiên cứu thực nghiệm đƣợc thiết kế để thu thập chứng cứ thực sự hữu ích từ điểm số thu đƣợc cho kết luận đó [42]. Carmines và Zeller (1979) định nghĩa độ hiệu lực là mức độ mà một công cụ đo đƣợc những gì nó định đo lƣờng. Quan điểm truyền thống đó đã đƣợc thảo luận bởi nhiều tác giả, và độ hiệu lực đƣợc chia thành ba dạng cơ bản: (a) độ hiệu lực nội dung; (b) độ hiệu lực tiêu chí liên quan; (c) độ hiệu lực cấu trúc. Carmines và Zeller (1979) lƣu ý rằng độ hiệu lực tiêu chí liên quan đƣợc sử dụng khi mục đích của công cụ là đánh giá một hành vi bên ngoài với chính công cụ đo lƣờng đó.
Mức độ tƣơng ứng giữa công cụ và tiêu chí đƣợc chỉ định bởi mức độ tƣơng quan của chúng [42]. Độ hiệu lực tiêu chí liên quan khác biệt với độ hiệu lực đồng thời – mức độ công cụ tƣơng quan với một thang đo tại cùng một thời điểm đánh giá và độ hiệu lực dự đoán - mức độ công cụ có thể dự báo đƣợc trong tƣơng lai. Haynes, Richard và Kubany (1995) đã định nghĩa độ hiệu lực nội dung là mức độ mà mỗi phần của công cụ, bao gồm cả phần hƣớng dẫn, các câu hỏi 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có trong công cụ và định dạng của công cụ, có liên quan và đại diện cho cấu trúc của công cụ đo. Độ hiệu lực nội dung có nguồn gốc từ cả những điều tra định lƣợng và định tính qua mẫu dân số và cả mẫu chuyên biệt, xác định tỷ lệ đại diện cho các mục, và báo cáo nên kết quả của độ hiệu lực nội dung khi công bố một công cụ đánh giá mới [42].
Lý thuyết của Messick về độ hiệu lực cấu trúc Samuel Messick (1989,1995) đề xuất một khái niệm thay thế cách tiếp cận truyền thống, những khái niệm nhiều tầng về độ hiệu lực đã đƣợc trình bày ở trên. Ông cho rằng các cách tiếp cận truyền thống về độ hiệu lực là chƣa đầy đủ. Thay vào đó, ông đề xuất một mô hình tích hợp của độ hiệu lực cấu trúc mà trong đó xem xét đến nội dung, các tiêu chí và kết quả của công cụ cùng với nhau. Messick quan niệm độ hiệu lực là tính thích hợp/ sự tiện ích, các giá trị có ý nghĩa và các kết quả mang tính xã hội nhƣ là một tổng thể, hợp thành dựa trên bằng chứng và tỷ lệ dựa trên mô hình của sự giải thích về điểm số [28].
Messick (1995) giới thiệu các “khía cạnh” của độ hiệu lực cấu trúc nhƣ sau: (1) Khía cạnh nội dung: các khía cạnh của độ hiệu lực cấu trúc đánh giá độ trung thực của cấu trúc tính điểm cho công cụ. Lý thuyết của việc xây dựng cấu trúc nên hƣớng dẫn các lý do đằng sau việc lựa chọn các mục câu hỏi của công cụ cũng nhƣ tiêu chí tính điểm dựa trên cấu trúc của công cụ. (2) Khía cạnh khái quát: khả năng khái quát của độ hiệu lực cấu trúc kiểm định mức độ khái quát của điểm số và giải thích chung cho các nhóm mẫu, lên chƣơng trình và mục tiêu. Khía cạnh này đi đến việc thiết lập ranh giới của ý nghĩa của điểm số.
Nó bảo đảm rằng việc giải thích điểm số là không giới hạn chỉ với nhóm mẫu với các mục câu hỏi hay nhiệm vụ, và thay 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vào đó là khái quát cấu trúc nhƣ một tổng thể. Một số vấn đề của khái quát hóa liên quan trực tiếp đến độ tin cậy của công cụ trong đó ý nghĩa của điểm số có thể bị giới hạn bởi thời gian, tình huống hoặc bởi ngƣời đánh giá/ngƣời quan sát. (3) Khía cạnh bên ngoài: các khía cạnh bên ngoài liên quan đến bằng chứng hội tụ và phân biệt từ những so sánh đa điểm/ đa phƣơng pháp dọc theo tiêu chí phù hợp và những phƣơng pháp đƣợc áp dụng. Ý nghĩa của điểm số đƣợc xác minh bằng cách đánh giá mức độ mà các mối quan hệ thực nghiệm với các thang đo khác có phù hợp với ý nghĩa đó không.
(4) Khía cạnh kết quả: khía cạnh này thẩm định những ý nghĩa có giá trị của điểm số giải thích theo đánh giá về những kết quả mong muốn hoặc không mong muốn trong quá trình sử dụng công cụ. Khía cạnh này cần đƣợc xem xét cả ngắn hạn và dài hạn, có nghĩa là bất kỳ tác động có hại nào của công cụ không nên bị gây ra bởi sự thiếu tính đại diện của cấu trúc trong việc lựa chọn các mục câu hỏi hoặc sự không liên quan đến tính cấu trúc. Messick thấy rằng độ hiệu lực nhƣ là một quá trình dài hạn dựa trên tính khoa học cũng nhƣ phƣơng pháp hợp lý. Cần phải làm rõ việc xác định các câu hỏi nhƣ thế nào để đảm bảo tính giá trị.
Những bằng chứng về độ hiệu lực cấu trúc cũng cần phải đƣợc dựa vào nhiều nguồn cung cấp thông tin. Ngoài ra những mục đích hiển nhiên có liên quan đến công cụ cần thiết phải đƣợc trình bày bởi những nhà phát triển công cụ để cho những ngƣời sử dụng công cụ đó quản lý và sử dụng nó một cách thích hợp, từ đó giảm thiểu đƣợc những hậu quả ngoài ý muốn [28]. Những quan điểm và những học thuyết về độ hiệu lực hiện nay vẫn còn đang gây tranh cãi bởi các nhà khoa học, nhƣng nhìn chung xu hƣớng đều đi đến thống nhất về định nghĩa cũng nhƣ phân biệt các dạng độ hiệu lực nhƣ sau theo Linda & James (2006): Định nghĩa về độ hiệu lực 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Độ hiệu lực của một thang đo là xem xét khả năng công cụ có đo được chính xác cái cần đo hay không” [41]. Các dạng của độ hiệu lực: theo Linda & James (2006) độ hiệu lực có các dạng sau: - Độ hiệu lực nội dung (content validity): Độ hiệu lực nội dung trả lời cho câu hỏi: “Nội dung của thang đo có phù hợp để đo đặc tính cụ thể mà thang đo đƣợc thiết kế ra hay không?” Hay nói các khác, từng mục (item) của trắc nghiệm có nội dung phù hợp với cái cần đo hay không, có liên quan đến một thành phần cụ thể của cái cần đo hay không [41].
- Độ hiệu lực tiêu chí liên quan (Ctiterion-related validity): đánh giá xem liệu một thang đo có phản ánh đƣợc một tập hợp các khả năng hay không. Độ hiệu lực tiêu chí liên quan đƣợc chia thành hai nhóm nhỏ: Độ hiệu lực đồng thời (concurrent validity): đánh giá một thang đo với một thang đo chuẩn và mối tƣơng quan cao chỉ ra rằng thang đo đó có độ hiệu lực tiêu chí mạnh. Độ hiệu lực dự báo (predictive validity): xem xét vấn đề liệu thang đo có khả năng dự báo hay không. Nó liên quan đến việc thử nghiên trên một nhóm đối tƣợng với một cấu trúc nhất định sau đó so sánh chúng với kết quả thu đƣợc tại một số điểm trong tƣơng lai.
Ví dụ xem xét điểm số của một thang đo có dự báo mức độ bệnh lý của một nhóm trẻ em hay không [41]. - Độ hiệu lực cấu trúc (construct validity): xác định khả năng của thang đo có thể đánh giá đúng loại nhƣ nó đƣợc thiết kế. Ví dụ một thang đo đƣợc thiết kế để đo trầm cảm thì chỉ đo đƣợc đúng trầm cảm, không có liên quan đến các ý tƣởng khác nhƣ lo âu hay căng thẳng. Độ hiệu lực cấu trúc đƣợc chia làm hai loại: Độ hiệu lực hội tụ (convergent validity): đo đạc khả năng cấu trúc của thang đo đƣợc mong đợi là có liên quan với một thang đo khác, và trên thực tế là có liên quan.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Độ hiệu lực phân biệt (discriminant validity): đo đạc khả năng cấu trúc của thang đo có thể phân tách đƣợc rõ ràng giá trị của hai nhóm đối tƣợng không có liên quan hoặc là có sự khác biệt (hay còn gọi là độ hiệu lực khác biệt (divergent validity) [41]. - Độ hiệu lực bề mặt (face validity): xem xét khả năng các vấn đề trong nghiên cứu đƣợc trình bày “về bề mặt” là có thể đo đƣợc cái cần đo, cho dù không biết chính xác công cụ đó có thực sự đo đƣợc cái cần đo hay không [41]. Tóm lại, độ hiệu lực có nhiều dạng đƣợc phân biệt rất khác nhau. Trong khuôn khổ đề tài này, ngƣời nghiên cứu tập trung vào độ hiệu lực đồng thời (concurrent validity) và độ hiệu lực phân biệt (discriminant validity) của Bảng Kiểm hành vi trẻ em phiên bản Việt Nam.
Những nghiên cứu về độ hiệu lực của các thang đo trong sàng lọc và đánh giá các vấn đề sức khỏe tâm thần trên thế giới Cùng với sự phát triển và xây dựng những thang đo sàng lọc và chẩn đoán các vấn đề sức khỏe tâm thần, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu và công bố những công trình nghiên cứu công phu về các thang đo có giá trị dựa trên thực chứng đồng thời cũng chứng minh đƣợc thuộc tính tâm trắc của thang đo đó bao gồm độ tin cậy và độ hiệu lực.