chương 1, điều 3 xác định: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. * Chức năng của môi trường: - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. - Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người. - Môi trường là nơi chứa đựng phế thải do con người tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất.
- Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái Đất. - Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người (Lê Văn Thiện, 2007) [10]. * Ô nhiễm môi trường là gì? Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 [7]: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”. n 5 - Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hóa học - sinh học của nước; với sự xuất hiện của các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước.
- Ô nhiễm môi trường không khí là hiện tượng làm cho không khí sạch thay đổi thành phần và tính chất dưới bất kỳ hình thức nào có nguy cơ gây tác hại tới thực vật và động vật, gây hại tới sức khỏe con người và môi trường xung quanh. Khí quyển có khả năng tự làm sạch để duy trì sự cân bằng giữa các quá trình. Những hoạt động của con người vượt quá khả năng tự làm sạch, có sự thay đổi bất lợi trong môi trường không khí thì được xem là ô nhiễm môi trường không khí. - Ô nhiễm môi trường đất là sự biến đổi thành phần, tính chất của đất gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp và những phương thức canh tác khác nhau và do thải bỏ không hợp lý các chất cặn bã đặc và lỏng vào đất.
Ngoài ra ô nhiễm đất còn do sự lắng đọng các chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống đất. - Ô nhiễm tiếng ồn là âm thanh không mong muốn hay âm thanh được phát ra không đúng lúc, đúng chỗ. Tiếng ồn là tổng hợp của nhiều thành phần khác nhau được tổng hợp trong sự cân bằng biến động. Mỗi thành phần có vai trò riêng trong việc gây ồn.
Sự khác nhau của tiếng ồn phụ thuộc vào những vị trí khác nhau và trong những thời điểm khác nhau. Ô nhiễm tiếng ồn như một âm thanh không mong muốn bao hàm sự bất lợi làm ảnh hưởng tới con người và môi trường sống của con người bao gồm đất đai, công trình xây dựng và động vật nuôi trong nhà. * Suy thoái môi trường “Suy thoái môi trường là suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [7]. n 6 Nguyên nhân gây suy thoái môi trường rất đa dạng: Sự biến động của tự nhiên theo hướng không có lợi cho con người, sự khai thác tài nguyên quá khả năng phục hồi, do mô hình phát triển chỉ nhằm vào tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng dân số, nghèo đói, bất bình đẳng… * Quản lý môi trường: “Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên” (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2014) [6].
Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: Luật pháp, chính sách, kinh tế, công nghệ, xã hội, văn hoá, giáo dục… Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra. Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình… * Tiêu chuẩn môi trường “Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường” [7]. Là các giá trị được ghi nhận trong các quy định chính thức, xác định nồng độ tối đa cho phép của các chất trong thức ăn, nước uống, không khí; hoặc giới hạn chịu đựng của con người và sinh vật với các yếu tố môi trường xung quanh. * Chất thải rắn Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hàng ngày hoặc các hoạt động khác.
Cơ sở pháp lý - Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường 2014 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kì họp thứ 7 thông qua ngày 23/06/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015. - Căn cứ Luật Tài nguyên nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2012. - Căn cứ Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu. - Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2014.
- Căn cứ Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/07/2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước. - Căn cứ Thông tư số 15/2006/TT-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2006 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình. - Căn cứ Thông tư số 09/2009/TT-BTMMT ngày 11/08/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng và quản lý các chỉ thị môi trường quốc gia. - Thông tư số 08/2010/TT-BTNMT ngày 18/3/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc xây dựng báo cáo môi trường quốc gia, báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực và báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh.
- Thông tư 27/2011/TT-BYT ngày 24 tháng 6 năm 2011 của Bộ Y tế về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu - điều kiện đảm bảo hợp vệ sinh. n 8 - Quyết định 51/2005 QĐ-BNN ngày 14/4/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành bộ chỉ tiêu theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. - Chỉ thị số 81/2007/CT-BNN ngày 02/10/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. - QCVN 08:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt.
- QCVN 09:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm. - QCVN 15:2008/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất. - QCVN 01:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ăn uống. - QCVN 02:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.
- QCVN 05:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng không khí xung quanh. - QCVN 26:2010/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về tiếng ồn. - QCVN 01:2011/BYT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nhà tiêu - Điều kiện bảo đảm hợp vệ sinh. Cơ sở thực tiễn 2.
Hiện trạng môi trường trên thế giới 2. Biến đổi khí hậu Nếu như cách đây khoảng 5 năm, thế giới vẫn còn hoài nghi và tranh luận về vấn đề liệu biến đổi khí hậu trên thực tế có xảy ra hay không và có phải do con người gây ra hay không thì ngày nay, cuộc tranh luận này không n 9 còn nữa và sự hoài nghi ngày càng thu hẹp. Báo cáo đánh giá của IPCC đã phản ánh sự đồng thuận rộng rãi về mặt khoa học khi cho rằng biến đổi khí hậu là có thật và do con người gây ra. Theo Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto, có nhiều nỗ lực đang được thực hiện nhằm kiểm soát và làm giảm mức phát tán các khí nhà kính, Hội nghị lần thứ ba các bên tham gia Công ước tại Buenos Aires năm 1998, đã đưa ra một kế hoạch hành động nhằm sử dụng các công cụ chính sách quốc tế như buôn bán mức phát thải và cơ chế phát triển sạch.
Tuy nhiên, chỉ một Nghị định thư Kyoto sẽ không đủ hiệu quả để ổn định được hàm lượng dioxit cacbon trong khí quyển (Kthryn Rushton, 2001) [13]. Nạn phá rừng và suy thoái đất Rừng xanh trên thế giới che phủ khoảng 1/3 diện tích đất liền của Trái đất, chiếm khoảng 40 triệu km2. Tuy nhiên, các vùng rừng rậm tốt tươi đã bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây.000km2 rừng đã tiếp tục bị mất. Kết quả là phát thải CO2 từ mất rừng và suy giảm rừng chiếm khoảng 12% tổng phát thải do con người gây ra.
Khoảng 25% diện tích đất toàn cầu đang bị suy thoái, tập trung ở châu Phi, Đông Nam Á, phía Nam Trung Quốc và vùng đồng cỏ Papas Mỹ La tinh. Suy thoái đất ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của khoảng 1,5 tỷ người (Võ Quý, 2011) [8]. Các thiên tai Tần suất và ảnh hưởng của thiên tai như động đất, phun trào núi lửa, gió bão, hỏa hoạn và lũ lụt ngày càng tăng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự sống của hàng triệu con người một cách trực tiếp như tử vong, thương tổn và những thiệt hại về kinh tế mà còn gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng về môi trường.
n 10 Nhóm nghiên cứu do Viện Công nghệ Karlsruhe tại Đức dẫn đầu đã thu thập những thông tin về lũ lụt, hạn hán, bão, núi lửa, động đất và cháy rừng của các quốc gia trên thế giới trong suốt giai đoạn từ năm 1900 - 2015.