Đặt vấn đề Hiện nay, môi trường đang là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học, kĩ thuật vào những năm cuối thế kỷ XX đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường sống của con người. Những năm gần đây tất cả các nước đều chung tay, góp sức để bảo vệ môi trường ngày càng trong sạch hơn. Hàng loạt các biện pháp được đề xuất thực hiện và thu được những thành tựu lớn trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, thế giới vẫn đang đứng trước những thách thức lớn về môi trường. Nước ta với dân số hơn 90 triệu người (năm 2013) mỗi năm sản sinh ra một khối lượng rác thải đáng kể. Tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trong cả nước ước tính lên tới 12,8 triệu tấn/năm, bên cạnh đó với sự phát triển mạnh mẽ của các khu đô thị, khu công nghiệp, du lịch… Kèm theo đó là việc con người đã thải ra các loại chất thải khác nhau vào môi trường. Chất thải sinh hoạt là một trong những nguồn gây ra ô nhiễm môi trường đáng kể.
Trong những năm gần đây, chất thải sinh hoạt đã trở thành vấn đề bức xúc đối với tỉnh Hòa Bình. Bức xúc từ ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của người dân còn chưa cao, cho đến khâu thu gom, vận chuyển, tập kết và xử lý rác. Huyện Lạc Thủy được coi là một trong những điểm nóng của tỉnh đang phải đối mặt với vấn đề này. Huyện Lạc Thuỷ nằm về phía Đông Nam tỉnh Hoà Bình, có ranh giới phía Đông giáp huyện Kim Bảng và huyện Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam), phía Tây giáp huyện Yên Thuỷ (tỉnh Hoà Bình), phía Bắc giáp huyện Kim Bôi (tỉnh Hoà Bình), phía Nam giáp huyện Gia Viễn và huyện Nho Quan (tỉnh Ninh Bình).
Trung tâm huyện cách thành phố Hòa Bình 75 km Theo quốc lộ 21A, cách thành phố Hà Nam 30 km, cách Thị trấn Nho Quan 21km. Thị trấn n 2 Chi Nê là trung tâm kinh tế - văn hóa, chính trị của Huyện nằm bên cạnh dòng Sông Bôi và bám trục đường quốc lộ 21A là điểm giao lưu kinh tế, văn hóa với các tỉnh bạn khá thuận lợi. Đặc biệt tuyến đường Hồ Chí Minh chạy qua địa bàn Huyện tạo ra lợi thế cho việc giao lưu phát triển kinh tế xã hội khu vực phía Bắc như Phú Thành, Thanh Nông, thị trấn Thanh Hà và đã được tỉnh phê duyệt là vùng động lực kinh tế của tỉnh. Do vậy, trong những năm tới Huyện sẽ thu hút đầu tư, phát triển kinh tế, du lịch, văn hóa - giáo dục, nâng cao dân trí và phát triển nguồn lực về kinh tế cũng như xã hội.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập, cơ sở hạ tầng và kinh tế kỹ thuật còn yếu, sự phát triển không đồng đều trên địa bàn huyện, tỷ lệ gia tăng dân số cao ở vùng trung tâm, dẫn đến phát sinh nhiều vấn đề về môi trường và xã hội. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình” 1. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng thành phần, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện Lạc Thủy. - Đánh giá thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Lạc Thủy.
- Xác định những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý của huyện, phát hiện những mặt tích cực đã làm cần được phát huy, những hạn chế cần được khắc phục. Từ đó giúp các nhà quản lý có sự điều chỉnh phù hợp với điều kiện cụ thể theo từng địa phương. Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu thực trạng công tác thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Lạc Thủy. n 3 - Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn Huyện.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn Huyện. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình. - Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác. - Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Lạc Thủy. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế. - Tích lũy được kinh nghiệm cho công việc khi đi làm.
- Nâng cao kiến thức thực tế. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, hiện trạng thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý rác trên địa bàn của huyện. - Phát hiện những khó khăn bất cập và những thiếu sót trong công tác thu gom, quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Lạc Thủy. - Đưa ra một số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện của huyện Lạc Thủy.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm về chất thải Chất thải là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn.
Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy… Chất thải là kim loại, hóa chất và từ các vật liệu khác (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004) [10]. Khái niệm về chất thải rắn Theo Điều 3 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn quy định [9]: - Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại. - Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình nơi công cộng gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt.
Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp. - Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. n 5 - Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. - Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng.
- Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn. Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt Rác là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố định, vứt bỏ từ hoạt động của con người. Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là chất thải phát sinh từ các hoạt động hàng ngày của con người (Trần Quang Ninh, 2007) [13]. Nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn 2.
Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn Các nguồn phát sinh chất thải rắn: - Hộ gia đình (nhà ở riêng biệt, khu tập thể, chung cư,…): Thực phẩm thừa, carton, nhựa, vải, da, gỗ vụn, thủy tinh, nilon, các kim loại khác, tro, lá cây, các chất thải đặc biệt (đồ điện hỏng, pin, bình điện, dầu, lốp xe,…) và các chất độc hại sử dụng trong gia đình. - Thương mại (kho, quán ăn, chợ, văn phòng, khách sạn, nhà in, trạm xăng dầu, gara…): Giấy, carton, nhựa, thức ăn thừa, thủy tinh, kim loại, các loại rác đặc biệt (dầu mỡ, lốp xe,…) và các chất độc hại. Thành phần chất thải rắn Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp đồng nhất và phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Tùy theo cách phân loại, mỗi một loại chất thải rắn có một số thành phần đặc trưng nhất định.
Thành phần chất thải rắn đô thị là bao quát hơn tất cả vì nó bao gồm mọi thứ chất thải rắn từ nhiều nguồn gốc phát sinh khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố). Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau: - Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27% - 62,22%) - Chứa nhiều đất và cát, sỏi vụn, gạch vỡ - Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900cal/kg) (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001) [11]. Phân loại chất thải rắn a) Phân loại theo nguồn gốc phát sinh: - Chất thải rắn sinh hoạt: Là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ những khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại… - Chất thải rắn công nghiệp: Là những chất phát sinh từ những hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. - Chất thải xây dựng: Là những phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình… - Chất thải nông nghiệp: Là những chất thải và mẩu thừa thải ra từ các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm từ chế biến sữa, các lò giết mổ, chất thải chăn nuôi… (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001) [11].