Đặt vấn đề Rác thải là sản phẩm tất yếu của cuộc sống và nó được tạo ra từ mọi hoạt động sống của con người như sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khám chữa bệnh… Hiện nay, dân số gia tăng, nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng tăng cao đồng nghĩa với việc sẽ có một lượng rác thải sinh hoạt khổng lồ được tạo ra với thành phần đa dạng phức tạp, đặc biệt lại chứa nhiều chất nguy hại, điều đó đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe và chất lượng môi trường sống của chúng ta. Vì vậy, vấn đề rác thải đã và đang trở thành một vấn đề nóng bỏng của tất cả các quốc gia trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường - Bộ TN&MT, hiện nay, tổng lượng chất thải rắn (CTR) sinh hoạt tại Việt Nam ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm. Bên cạnh đó việc phát triển mạnh mẽ của các nhà máy, khu công nghiệp, việc sản xuất nông nghiệp và sự xuất hiện nhiều đô thị đã thải ra một lượng lớn rác thải.
Tuy nhiên, công nghệ xử lý rác thải hiện có của cả nước phần lớn chưa thật sự hiện đại, sử dụng các công nghệ đa dụng cho nhiều loại chất thải và thường ở quy mô nhỏ, rác thải chưa được xử lý triệt để đã thải vào môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng. Trong những năm gần đây, vấn về rác thải sinh hoạt cũng trở thành thách thức lớn với tỉnh Thái Nguyên. Trong đó,thị trấn Đu huyện Phú Lương được coi là một trong những điểm nóng phải đối mặt với vấn đề này. Thị trấn Đu là huyện lỵ của Phú Lương là huyện miền núi, nằm ở cùng phía Bắc Tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm Thành Phố Thái Nguyên khoảng 22 km về phía Bắc.
Những năm gần đây, kinh tế huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Tuy 2 nhiên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, cơ sở hạ tầng, kỹ thuật còn yếu, sự phát triển không đồng đều, và tỷ lệ dân số vùng cao lớn, công tác quản lý, bảo vệ môi trường vẫn chưa được chú trọng, bên cạnh đó ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của người dân còn chưa cao, dẫn đến phát sinh nhiều vấn đề môi trường, đặt biệt là vấn đề rác thải. Rác thải sinh hoạt chưa được thu gom, xử lý tốt đã làm thay đổi cảnh quan của huyện cũng như tác động xấu đến chất lượng môi trường sống của cộng đồng dân cư sống trên địa bàn huyện Phú Lương. Xuất phát từ thực trạng trên và được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu Nhà Trường, Ban Chủ Nhiệm Khoa Môi Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của Ban Quản Lí Môi Trường Đô Thị huyện Phú Lương- tỉnh Thái Nguyên, em đã tiến hành đề tài “Đánh giá hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và quản lí rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên” dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS.Trần Thị Phả, giảng viên trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên 1.
Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu công tác thu gom và xử lí rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Phú Lương. - Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lí rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện. - Đề xuất một số biện pháp cải thiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện huyện Phú Lương. Yêu cầu của đề tài - Số liệu phải trung thực, chính xác, khách quan.
- Tìm ra những thuận lợi khó khăn trong công tác thi gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. - Các giải pháp, kiến nghị đưa ra hiệu quả, phù hợp với thực tế của địa phương. Ý nghĩa của học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao kiến thức thực tế cho bản thân. - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy được tất cả các kiến thức đã học tập và nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, hiện trạng thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn huyện. - Phát hiện những khó khăn bất cập và những thiếu sót trong công tác thu gom, quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đu - Đưa ra một số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện của huyện Phú Lương. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm về chất thải Chất thải là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy… Chất thải là kim loại, hóa chất và từ các vật liệu khác (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2016) 2.
Khái niệm về chất thải rắn Theo Điều 3 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn quy định [9]: - Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại. - Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình nơi công cộng gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp.
- Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận - Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. 5 - Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. - Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn. Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt Rác là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố định, vứt bỏ từ hoạt động của con người.
Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là chất thải phát sinh từ các hoạt động hàng ngày của con người (Trần Quang Ninh, 2007) 2. Nguồn phát sinh, thành phần và phân loại chất thải rắn 2. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn Các nguồn phát sinh chất thải rắn: - Hộ gia đình (nhà ở riêng biệt, khu tập thể, chung cư,…): Thực phẩm thừa, carton, nhựa, vải, da, gỗ vụn, thủy tinh, nilon, các kim loại khác, tro, lá cây, các chất thải đặc biệt (đồ điện hỏng, pin, bình điện, dầu, lốp xe,…) và các chất độc hại sử dụng trong gia đình. - Thương mại (kho, quán ăn, chợ, văn phòng, khách sạn, nhà in, trạm xăng dầu, gara…): Giấy, carton, nhựa, thức ăn thừa, thủy tinh, kim loại, các loại rác đặc biệt (dầu mỡ, lốp xe,…) và các chất độc hại.
Thành phần chất thải rắn - Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp đồng nhất và phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Tùy theo cách phân loại, mỗi một loại chất thải rắn có một số thành phần đặc trưng nhất định. Thành phần chất thải rắn đô thị là bao quát hơn tất cả vì nó bao gồm mọi thứ chất thải rắn từ nhiều nguồn gốc phát sinh khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố). Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau: - Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27% - 62,22%) - Chứa nhiều đất và cát, sỏi vụn, gạch vỡ - Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900cal/kg) (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001) [11].
Phân loại chất thải rắn. - Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà ngoài nhà, trên đường phố, chợ … - Theo thành phần hóa học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo … - Theo bản chất nguồn tạo thành: + Chất thải rắn sinh hoạt: kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa, xương động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả … + Chất thải rắn công nghiệp: Các phế thải vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện, các phế thải nhiên liệu phục vụ cho sản xuất, bao bì đóng gói sản phẩm. 2 + Chất thải xây dựng: đất, đá, vụn kim loại, chất dẻo, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá vỡ, xây dựng công trình… + Chất thải nông nghiệp: những mẩu bùn thừa thải ra từ các hoạt động nông nghiệp như: trồng trọt, thu hoạch lại các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, các lò giết mổ… -Theo mức độ nguy hại, chất thải rắn được chia thành các loại: + Chất thải nguy hại: các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, chất sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe con người, động - thực vật. + Chất thải y tế nguy hại: chất thải sinh hoạt ở phòng bệnh, mô hay bộ phận cơ thể cắt bỏ, các loại bông băng, gạc, nẹp, kim tiêm dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật và các chất thải trong bệnh viện.
+ Chất thải không nguy hại: Là những chất thải không chứa các chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần.