chương 1, điều 3: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, cơ ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. * Chức năng của môi trường - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. - Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất con người. - Môi trường là nơi chứa đựng phế thải do con người tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất.
- Chức năng giảm nhẹ các tác động có hai của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái Đất. - Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người (Nguyễn Thị Lợi, 2006)[14]. n 5 * Ô nhiễm môi trường là gì? Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì “ Ô nhiễm môi trường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường”. - Ô nhiễm môi trường nước Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật.
Theo hiến chương Châu Âu: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho nông nghiệp, cho công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại. Khái niệm nước mặt: Là nguồn nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo. Khái niệm nước ngầm: Là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất. * Quản lý môi trường: “ Quản lý môi trường là một hoạt động trong quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kĩ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên” ( Luật Bảo vệ môi trường 2005)[16].
* Tiêu chuẩn môi trường: “ Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường” ( Luật Bảo vệ môi trường 2005)[16]. Cơ sở pháp lý - Căn cứ Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 ngày 29/11/2005. - Luật số 08/1998/QH 10 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Tài nguyên nước. - Nghị định 29/2011/NĐ - CP ngày 18 tháng 04 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường.
- Căn cứ nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 09/08/2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường. - Căn cứ nghị định 21/2008/ NĐ – CP ngày 28/02/2008 về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 09/08/2006. - Nghị định 149/ 2004/NĐ – CP về việc cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước xả nước thải vào nguồn nước. - Nghị định số 179/1999/NĐ – CP ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ Quy định việc thi hành Luật Tài nguyên nước.
- Nghị định số 162/2003/NĐ – CP ngày 19 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ ban hành quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước. - Thông tư số 29/2011/TT- BTNMT quy định quy trình kĩ thuật quan trắc môi trường nước mặt lục địa. - Quyết định số 341/QĐ- BTNMT về việc ban hành Danh mục lưu vực sông nội tỉnh. - TCVN 5942- 1995: Giá trị giới hạn cho phép các thông số và nồng độ chất ô nhiễm cơ bản trong nước mặt.
- QCVN 08 : 2008/BTNMT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt. - TCVN 5945: 2005 Nước thải công nghiệp – tiêu chuẩn thải. Cơ sở thực tiễn 2. Hiện trạng ô nhiễm nước của một số nước trên thế giới Trên thế giới có khoảng 361 triệu km2 diện tích các đại dương (chiếm khoảng 71% diện tích bề mặt trái đất).
Trữ lượng tài nguyên nước có khoảng 1,5 tỷ km3, trong đó nước nội địa chỉ chiếm 91 triệu km3 (61%), còn lại 93,9% là nước biển và đại dương. Tài nguyên nước ngọt chiếm 28,25 triệu km3 (1,88% thủy quyển), nhưng phần lớn lại ở dạng đóng băng ở hai cực trái đất (hơn 70% lượng nước ngọt). Lượng nước thực tế con người có thể sử dụng được là 4,2 triệu km2 (0,28 % thủy quyển). Tài nguyên nước trên thế giới được thống kê ở bảng sau: Bảng 2.
Thống kê tài nguyên nước trên Thế Giới Thể tích Tỉ lệ Vị Trí (* 1012 m3) (%) Hồ nước ngọt 125 0,009 Hồ nước ngọt, biển nội địa 104 0,008 Sông 1,25 0,0001 Vùng lục địa Độ ẩm trong đất 67 0,005 Nước ngầm 8350 0,61 Băng ở bắc cực 29200 2,14 Tổng vùng lục địa(làm tròn) 37800 2,8 Khí quyển 13 0,001 (hơi nước) Các đại dương 1320000 97,3 Tổng (làm tròn) 1360000 100 Nguồn: Tyson, J, (1989) [21] Nước lục địa bao gồm nguồn nước mặt và nước dưới đất. Nước mặt phân bố chủ yếu trong các hệ thống sông, suối, ao, kênh, rạch và các hệ thống n 8 tiêu thoát nước trong nôi thành đô thi. Nước dưới đất hay còn gọi nước ngầm là nước tự nhiên chảy ngầm trong lòng đất qua nhiều tần đất đá, có cấu tạo địa chất khác nhau. Hiện nay, vấn đề ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt tại các lưu vực sông và các sông nhỏ, kênh rạch trong nội thành, nội thị.
Trên thế giới có khoảng 1400 triệu km3 nước, trong đó nước mặn chiếm 97%, nước ngọt 3% tuy nhiên chỉ có 10 triệu km3 nước có thể sử dụng được, phần còn lại là nước đóng băng. Thế giới hiện nay tỉ lệ sử dụng nước như sau: + 69% sử dụng cho nông nghiệp + 23% sử dụng cho công nghiệp + 8% sử dụng cho đời sống và đô thị Theo ước tính, những vùng đất hạn hán chiếm 31% tổng diện tích đất liền trên thế giới, trong đó bao gồm 40% là sa mạc. Do đó hiện tượng không cân bằng của sự phân bố nước trên địa cầu là không thể tránh khỏi, điều đáng báo động là mức sử dụng nước bình quân cho mỗi đầu người vào khoảng 2000 m3, nhưng hiện nay có đến 50 nước, nghĩa là 750 triệu dân được cung cấp nước dưới mức 1700 m3 (1 người/1 năm). Như vậy trong những thập kỷ tới, chúng ta phải tính đến sự xa mạc hóa và tốc độ tăng dân số ở một số vùng trên thế giới.
Người ta nhận định rằng ở Châu Phi hơn1 tỷ người sẽ lâm vào cảnh thiếu nước và tình trạng này cũng là mối đe dọa của cả Trung Quốc và Ấn Độ. Chúng ta biết rằng nước là môi trường thuận lợi cho mọi sự ô nhiễm, tất cả mọi chất thải cũng như mọi chất hóa học khi thải ra nước đều hòa tan hoặc lưu trữ một phần. Quy luật này là nguồn gốc sâu xa của sự phát sinh ô nhiễm nước. Hiện nay thế giới nhiều sông, suối đã dần trở nên ô nhiễm nặng nề như: n 9 + Tại Trung Quốc 80% chất thải ra sông hàng ngày mà không có bất cứ kỳ khâu sử lý nào.
+ Sông Rio Bogofa ở Colombia ô nhiễm đến mức không có sinh vật nào sống nổi và không có khu dân cư nào sống gần đó. + Tại Nga, sông Vonga hàng năm vận chuyển đến 42 triệu tấn chất thải độc hại. + Ở Châu Âu – Bắc Mỹ, một nửa số sông hồ đã bị ô nhiễm rất trầm trọng (Lan Anh, 2002) [13]. Nguồn nước trên thế giới có thể bị ô nhiễm bởi các tác nhân khác nhau được thể hiện qua bảng 2.
Chất lượng nước mặt trên thế giới. STT Tác nhân gây ô nhiễm Sông Hồ, ao Hồ chứa 1 Vi khuẩn gây bệnh +++ + + 2 Chất rắn lơ lửng ++ + + 3 Các hợp chất hữu cơ +++ + + 4 Hàm lượng phú dưỡng + ++ +++ 5 Nitrat hóa + - - 6 Mặn hóa + - - 7 Các nguyên tố vết ++ ++ ++ 8 Axit hóa + ++ ++ 9 Chế độ thủy văn ++ + - ( Nguồn: Cục quản lý Tài Nguyên nước, 2003) (Ghi chú: (+ + +) mức nghiêm trọng, (+ +) mức vừa phải, (+) mức ít,(-) rất ít hoặc không nghiêm trọng). Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) vừa công bố kết quả nghiên cứu cho thấy, tình trạng biến đổi khí hậu đã làm nghiêm trọng hơn các n 10 vấn đề về nguồn nước vốn đã hết sức căng thẳng tại các quốc đảo ở khu vực Thái Bình Dương. Giám đốc Văn phòng khu vực châu Á – Thái Bình Dương của UNEP, ông Park Young – Woo dẫn báo cáo nêu rõ thách thức về nguồn nước ngọt mà khu vực này đang phải đối mặt thực sự là rất lớn do bị hạn chế về tài nguyên nước.Theo đó nhu cầu cấp bách đối với khu vực này là tăng cường hiệu quả các biện pháp sử dụng nước để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người và thúc đẩy phát triển bền vững.
Đặc biệt là nền sản xuất nông nghiệp đang bọ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn nước mưa nên đã đặt các nền kinh tế và cuộc sống của người dân ở các quốc đảo trong khu vực trước nhiều hiểm họa khôn lường. Thống kê cho thấy, tỉ lệ gần 10% số ca tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi ở các quốc đảo này bắt nguồn từ các nguyên nhân liên quan đến nước và 90% các ca tử vong còn lại là do những nguyên nhân liên quan đến các điều kiện về mất sinh. Nghiên cứu của UNEP cũng nêu rõ, nhiều quốc đảo ở Thái Bình Dương không thể thực hiện được các Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG) của Liên Hợp Quốc về cung cấp nước sạch và các điều kiện về sinh cơ bản vào năm 2015. Ngoài ra, các quốc đảo ở Thái Bình Dương cũng đang đứng trước những căng thẳng chưa từng có về sinh thái với nhiều đảo có từ 85 – 90% diện tích không có hệ thực vật sống và hầu như không có khả năng xử lý nguồn nước thảo từ các khu vực đô thi khiến nguồn nước mặt bị ô nhiễm nghiêm trọng (Kỳ Sơn, 2011) [10].