Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con ngƣời. Đất đai là nền tảng để định cƣ và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tƣợng lao động mà còn là tƣ liệu sản xuất không thể thay thế đƣợc, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp. Đất là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trƣờng duy nhất sản xuất ra lƣơng thực thực phẩm nuôi sống con ngƣời. Việc sử dụng đất có hiệu quả không gây ô nhiễm và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tƣơng lai.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lƣơng thực thực phẩm, chỗ ở cũng nhƣ các nhu cầu về văn hóa, xã hội. Con ngƣời tìm mọi cách để khai thác đất đai, nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng; do vậy, đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích nhƣng lại có nguy cơ bị suy thoái dƣới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con ngƣời trong quá trình sản xuất; ngoài ra, sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang đƣợc các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nƣớc có nền nông nghiệp chủ yếu nhƣ Israel, nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trƣờng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
n 2 Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu bảo vệ môi trƣờng, đƣợc sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa KhoaMôi trƣờng - Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đồng thời dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của cô giáo: Ths. Đặng Thị Hồng Phƣơng, em đã tiến hành thực hiệnđề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường đất trồng hoa của farm 50 moshav Hatzeva, vùng Arava, Israel”. Từ đó, xác định các loại hình sử dụng đất phù hợp và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất không làm ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vữngđồng thời cũng làm thay đổi cơ cấu kinh tế, đời sống của nhân dân cả nƣớc.Mỗi vùng sản xuất nông nghiệp khác nhau thì có một phƣơng thức canh tác khác nhau. Sự khác nhau này phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của vùng lãnh thổ đó.2 Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng môi trƣờng đất trồng hoa của farm 50 Moshav Hatzeva, vùng Arava, Israel.
- Đề xuất sử dụng đất hiệu quả đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện đất đai, địa hình, khả năng khai thác và tiềm lực kinh tế xã hội của farm - Thuận lợi, khó khăn, bài học kinh nghiệm. Yêu cầu của đề tài - Điều tra thu thập điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã một các đầy đủ, chính xác và khách quan. - Đánh giá đúng, khách quan, toàn diện và trung thực, thực trạng đất nông nghiệp củatrang trại50 moshav Hatzeva. - Các loại hình sử dụng đất phải đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trƣờng.
- Đƣa ra các kiến nghị có tính khả thi, phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng. n 3 - Đề xuất những giải pháp mang tính khả thi cao nhằm phát triển bền vững bảo vệ môi trƣờng quỹ đất nông nghiệp của Việt Nam. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: - Củng cố kiến thức đã đƣợc tiếp thu trong nhà trƣờng và những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài.
- Là nguồn tài liệu cho học tập và nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa trong thực tiễn: - Góp phần đánh giá chất lƣợng đất nông nghiệp của farm, chỉ ra đƣợc những vị trí ô nhiễm, để có những biện pháp xử lý phù hợp cho từng mục đích sử dụng. - Là cơ sở giúp các cơ quan quản lý Nhà nƣớc về môi trƣờng đƣa ra các biện pháp xử lý cũng nhƣ quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng đất nông nghiệp moshav. - Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về BVMT cho cộng đồng dân cƣ.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan của đề tài 2. Tổng quan về đất nước Israel 2. Điều kiện tự nhiên của Israel a.Vị trí địa lý Israel một quốc gia nhỏ bé nằm ở phía tây nam châu Á, thủ đô là Jerusalem,là một quốc gia nằm ở rìa phía đông của Biển Địa Trung Hải.
Nó có biên giới phía bắc giáp với Liban, phía đông bắc với Syri, phía đông và đông nam với Jordan, phía tây nam với Ai Cập, phía tây với Biển Địa Trung Hải.Tổng diện tích lãnh thổ Israel - là 22.1: Bản đồ của Israel ( 8,630 mi² - dặm vuông) trong đó 21.671 km² là diện tích đất [11]. Israel đƣợc chia thành bốn vùng: đồng bằng ven biển, đồi núi ở trung tâm, Châu thổ Jordan và Sa mạc Negev. Đồng bằng ven Địa Trung Hải trải dài từ biên giới Liban tới phía bắc Gaza ở phía nam, chỉ bị ngăn cách tại Mũi Lạc Đà ở Vịnh Haifa. Nó rộng khoảng 40 km tại Gaza và hẹp dần về hƣớng bắc tới khoảng 5 km tại biên giới Liban.
Vùng này màu mỡ và ẩm ƣớt và nổi tiếng về chanh và nghề trồng nho. Đồng bằng này có nhiều con sông ngắn cắt ngang, và chỉ hai con sông Yarqon và Qishon, là thƣờng xuyên có nƣớc chảy. Phía đông đồng bằng ven biển là vùng cao nguyên trung tâm. Phía bắc vùng này là những dãy núi và đồi của khu vực Thƣợng và Hạ Galilee; xa hơn về phía nam là các Đồi Samarian với nhiều thung lũng nhỏ và màu mỡ; và phía nam Jerusalem là những đồi đất cằn cỗi của Judea.
Độ cao trung bình của n 5 cao nguyên là 610 mét (2.000 ft) là lên tới điểm cao nhất tại Núi Meron, ở 1.963 ft), tại Galilee gần Zefat (Safad). Phía đông cao nguyên trung tâm là Châu thổ rãnh Jordan, đây là một phần nhỏ của Rãnh nứt Syri-Đông Phi dài 6. Tại Israel Châu thổ Rãnh bị thống trị bởi Sông Jordan, Hồ Tiberias (cũng đƣợc gọi là Biển hồ Galilee và đối với ngƣời Israel là Hồ Kinneret) và Biển Chết. Sông Jordan, con sông lớn nhất Israel (322 km / 200 mi), bắt nguồn từ các con sông Dan, Baniyas, và Hasbani gần Núi Hermon tại Anti-Liban Mountains và chảy về phía nam xuyên qua Lòng chảo Hula khô cạn vào Hồ nƣớc ngọt Tiberias[6].
Sa mạc Negev rộng khoảng 12.600 mi²)[4], hơn một nửa tổng diện tích đất liền Israel. Về mặt địa lý, nó kéo dài tới Sa mạc Sinai, tạo thành một tam giác gồ ghề với cạnh đáy ở phía bắc gần Beer-Sheva, Biển Chết, và Đồi Judean phía nam, và nó có đỉnh tại Eilat. Về mặt địa hình, nó chạy song song với các vùng khác trong nƣớc, với những vùng đất thấp ở phía tây, các đồi núi ở miền trung và Nahal HaArava là biên giới phía bắc của nó. Khí hậu Israel có khí hậu Địa Trung Hải đặc trƣng bởi mùa hè dài, nóng và khô cùng với mùa đông ngắn, lạnh và nhiều mƣa, thay đổi theo vĩ độ và độ cao.
Mùa hè ở vùng dọc bờ biển Địa Trung Hải rất ẩm nhƣng tại Negev thì khô. Khí hậu đƣợc xác định bởi vị trí của Israel giữa đặc điểm khô cằn cận nhiệt đới của Ai Cập và ẩm cận nhiệt đới của Levant hay phía đông Địa Trung Hải. Tháng 1 là tháng lạnh nhất, với nhiệt độ trung bình thay đổi từ 5 °C tới 12 °C (41 °F tới 54 °F), và tháng 8 là tháng nóng nhất ở nhiệt độ 18 °C tới 38 °C (64 °F tới 100 °F). Tại Eilat, thành phố sa mạc, trong mùa hè nhiệt độ cao nhất nƣớc.
Nhƣng không khí khô khiến nó rất dễ chịu. Hơn 70 phần trăm lƣợng mƣa trung bình của đất nƣớc rơi xuống trong khoảng giữa tháng 11 và n 6 tháng 3; Từ tháng 6 đến tháng 9 thƣờng không có mƣa. Lƣợng mƣa phân bố không đều, giảm nhiều khi đi về hƣớng nam. Tại điểm cực nam, lƣợng mƣa trung bình nhỏ hơn 50 millimét (2 in) hàng năm; Ở phía bắc, lƣợng mƣa trung bình hàng năm vƣợt quá 900 millimét (35 in).
Lƣợng mƣa thay đổi theo từng mùa và theo từng năm, đặc biệt tại Sa mạc Negev. Lƣợng mƣa thƣờng tập trung trong những trận bão mạnh, gây ra xói mòn và lũ lụt. Trong tháng 1 và tháng 2, có thể có tuyết tại những điểm cao ở cao nguyên trung tâm, gồm cả Jerusalem. Những vùng có thể trồng cấy của đất nƣớc là những vùng có lƣợng mƣa lớn hơn 300 millimét (12 in) hàng năm; Khoảng một phần ba đất đai của nƣớc này có thể trồng cấy đƣợc.
Biểu đồ khí hậu tại Israel (Nguồn: weather-and-climate.Điều kiện kinh tế - xã hội của Israel a. Điều kiện kinh tế Kinh tế Israel là nền kinh tế thị trƣờng.Năm 2013, Israel xếp thứ 19 trong tổng số 187 quốc gia về Chỉ số Phát triển Con ngƣời của Liên Hiệp Quốc, đƣợc xếp vào nhóm "phát triển rất cao". n 7 Những vấn đề kinh tế nghiêm trọng phát sinh do ngân sách quốc phòng lớn và hoàn cảnh chính trị đã cản trở thƣơng mại giữa Israel và các nƣớc láng giềng. Các ngành kinh tế chủ chốt bao gồm sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm kim loại, thiết bị điện tử và y sinh, sản phẩm nông nghiệp, chế biến thực phẩm, hóa chất, thiết bị vận tải; Israel cũng là một trong những trung tâm hàng đầu thế giới về chế tác kim cƣơng.Israel là một trong những nƣớc xuất khẩu nhiều nhất hoa quả họ chanh bƣởi.
Phần lớn diện tích của Israelđƣợc canh tác do các tập thể và hợp tác xã. Tài nguyên của Israel nghèo.Du lịch đến các vùng đất Thánh cũng đóng vai trò quan trọng cho nguồn thu ngân sách. Công nghiệp chiếm 17%, nông nghiệp: 2% và dịch vụ: 81% GDP, xuất khẩu đạt 23,5 tỷ USD, nhập khẩu 30,6 tỷ USD; Nợ nƣớc ngoài: 18,7 tỷ USD. Nông nghiệp, khoa học - kỹ thuật và quản lý kinh tế rất tiên tiến.