ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Tính cấp thiết Hiện nay, đất nước ta đang trên đà phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được Đảng và Nhà nước xác định là hướng đi cơ bản trong quá trình phát triển của nước ta. Thực tế cho thấy, trong các làng nghề truyền thống của vùng nông thôn nước ta các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thể hiện vai trò chủ đạo của mình và sự phát triển khởi sắc của những làng nghề trong những năm gần đây đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn. Làng nghề có ý nghĩa lớn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Hoạt động làng nghề đã thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia, giải quyết việc làm cho hơn 30% lực lượng lao động nông thôn.
Hoạt động làng nghề còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động. Tuy nhiên, cũng phải nhấn mạnh rằng, cho đến nay, sự phát triển của làng nghề còn mang tính chất tự phát, quy mô nhỏ với loại hình sản xuất chủ yếu là thủ công, trang thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu lại thêm sự thiếu hiểu biết của người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường. Vì thế, cùng với sự mở rộng quy mô sản xuất của các làng nghề là ô nhiễm môi trường đang ngày càng gia tăng gây ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe, đời sống của nguời dân địa phương.Và sự ô nhiễm ngày càng trở nên trầm trọng hơn khi vấn đề môi trường ở nông thôn chưa được các quan tâm đúng mức của các ngành có liên quan. Kết quả quan trắc trong thời gian gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm của các làng nghề không những không giảm mà còn gia tăng.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đất, nước, không khí, môi trường cảnh quan, sức khỏe người dân trong địa phương và các khu vực lân cận. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó và được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, khoa Môi n 2 Trường, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thanh Hải – giảng viên trường Đại học Nông Lâm, em đã thực hiện đề tài : “Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải làng nghề chế biến thủy sản xã Thụy hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”.Với mong muốn đánh giá đúng thực trạng môi trường nước thải làng nghề, tìm ra nguyên nhân gây ô nhiễm và đề xuất một số giải pháp để khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường của làng nghề chế biến thủy sản ở xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau: - Xác định nguồn gây ô nhiễm của làng nghề chế biến thủy hải sản. - Đánh giá hiện trạng nước thải của làng nghề.
- Đề xuất một số giải pháp kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường. - Nâng cao chất lượng môi trường làng nghề tại địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa thực tiễn - Xác định được thực trạng chất lượng nước thải của làng nghề.
- Kết quả của đề tài góp thêm đối với hệ thống thông tin, dữ liệu về hiện trạng môi trường của địa phương đồng thời kết quả này giúp người dân nâng cao nhận thức về vấn đề môi trường. - Cung cấp các biện pháp về bảo vệ môi trường làng nghề ở địa phương. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên biết cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học. - Giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã học vào trong thực tiễn đồng thời trau dồi thêm kiến thức đã thu thập được từ thực tiễn.
n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận * Môi trường là gì? Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật. Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm nhân tạo nhằm thảo mãn những nhu cầu của con người”.
Theo khoản 1 điều 3 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005, môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. * Chức năng của môi trường - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. - Môi trường là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người. - Môi trường là nơi chứa đựng phế thải do con người tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất.
- Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất. - Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. n 4 * Ô nhiễm môi trường là gì? Theo khoản 6 điều 3 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”. - Ô nhiễm môi trường đất Là quá trình thoái hóa đất và bị ô nhiễm bởi các hóa chất độc hại khi hàm lượng các chất đó cao hơn tiêu chuẩn cho phép.
Các nguồn gây ô nhiễm môi trường đất chủ yếu là các chất thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, bệnh viện, công nghiệp. Trong đó đáng chú ý là các nguồn ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp (dư lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc kích thích sinh trưởng, phân hóa học) và sản xuất công nghiệp (nhà máy, xí nghiệp). Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật Theo Hiến chương Châu Âu: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho nông nghiệp, cho công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại. Khái niệm nước mặt: Là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.
Khái niệm nước ngầm: Là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất. - Ô nhiễm môi trường không khí Ô nhiễm không khí là sự có mặt của những chất lạ hoặc sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho nó không sạch, bụi và có mùi khó chịu, làm giảm tầm nhìn… có ảnh hưởng đến đời sống của con người và sinh vật. n 5 * Suy thoái môi trường Theo khoản 7 điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005: “Sự suy giảm về chất lượng và số lượng các thành phần môi trường gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật”. Nguyên nhân gây suy thoái môi trường rất đa dạng: Sự biến động của tự nhiên theo hướng không có lợi cho con người, sự khai thác tài nguyên quá khả năng phục hồi, do mô hình phát triển chỉ nhằm và tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng dân số, nghèo đói, bất bình đẳng.
* Quản lý môi trường và phòng chống ô nhiễm: “Quản lý môi trường là một hoạt động trong quản lý xã hội: có tác động điều chỉnh các hoạt động của con nguời dựa trên sự tiếp cận có hệ thống, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới sự phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên”. Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: Luật pháp, chính sách, kinh tế, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục…Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra. Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình. * Tiêu chuẩn môi trường Theo khoản 5 điều 3 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005: “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”.
Cơ sở pháp lý - Luật bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 11 kì họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006. n 6 - Nghị định 149/2004/NĐ – CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành, nghề nông thôn. - Nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về một số điều của luật BVMT. - Nghị định 59/2007/ NĐ – CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn - Nghị định số 21/2008/NĐ – CP ngày 28/02/2008 mọi đối tượng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đều phải lập báo cáo ĐTM hoặc cam kết bảo vệ môi trường (đối với các dự án đầu tư cơ sở mới) hoặc đề án BVMT (đối với cơ sở đang hoạt động) - Nghị định 29/2008/NĐ – CP ngày 28/02/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ- CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật BVMT.
- Thông tư 116/2006/ TT – BNN ngày 18/02/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 66/2006/NĐ – CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn. - Thông tư số 113/TT – BTC ngày 28/12/2006 của Bộ Tài Chính về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn theo nghị định số 66/2006/NĐ – CP ngày 07/07/2006 của Thủ tướng Chính phủ. - Thông tư số 46/2011/TT – BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường quy định về BVMT làng nghề. - Quyết định 132/2000/QĐ – TTg Khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn.
- Quyết định số 22/2006/QĐ – BTNMT về việc áp dụng TCVN về môi trường.