Tính cấp thiết của đề tài Đất và nước là hai nguồn tài nguyên quý giá của nhân loại vì nó là cội nguồn của sự tồn tại, nguồn gốc của mọi sự sống trên trái đất. Đối với nông nghiệp đất là tư liệu sản xuất đặc biệt. Cùng với đất, nước là yếu tố hàng đầu để sản xuất nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp ông cha ta đã có câu “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.
Mối quan hệ giữa đất, nước và cây trồng luôn mật thiết với nhau. Cây trồng sinh trưởng, phát triển được là nhờ các yếu tố nước, chất dinh dưỡng, nhiệt độ, ánh sáng, không khí, trong đó nước có vai trò đặc biệt ở chỗ nó vừa có khả năng điều hoà các yếu tố còn lại vừa phát huy tác dụng của chúng làm cho cây trồng phát triển. Tuy nhiên tài nguyên nước phân bố không đồng đều trong không gian và thời gian, chưa đáp ứng với yêu cầu nước của cây trồng trong hệ thống luân canh, chưa phù hợp với tốc độ phát triển của sản xuất nông nghiệp. Vì vậy việc tưới, tiêu nước là biện pháp kỹ thuật nhằm phát huy tốt nhất hiệu quả việc sử dụng nguồn tài nguyên đất.
Hơn nữa, ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng được áp dụng rộng rãi trên đồng ruộng, cơ cấu cây trồng thay đổi theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn, nhiều giống mới có yêu cầu thâm canh cao, lượng nước yêu cầu lớn, nhiều loại cây trồng có giá trị hàng hoá cao được đưa vào sản xuất dẫn đến nhu cầu nước của từng hệ thống cây trồng, từng công thức luân canh cũng thay đổi so với trước. Để đáp ứng đủ nước theo yêu cầu thâm canh tăng vụ các công trình thuỷ nông phục vụ tưới, tiêu chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu trên. Hay nói cách khác là áp lực về năng xuất cây trồng lên một đơn vị diện tích canh tác phụ thuộc vào việc tưới, tiêu chủ động hay không. Hiện nay cả nước hiện có 75 hệ thống thuỷ nông lớn, gần 1.970 hồ chứa nước lớn và một lượng tương tự như vậy là hồ chứa, đập nhỏ, trên 10.000 trạm 1 bơm và 1000 km kênh trục lớn với tổng giá trị quy ra tiền tới 100.
Nhưng do hệ thống thuỷ lợi qua quá trình sử dụng, khai thác từ lâu đã xuống cấp, cộng với công tác quản lý và sử dụng nước tưới không tốt (cả trên kênh và trên mặt ruộng) đã làm cho lượng nước sử dụng cho một ha gieo trồng rất lớn, dẫn đến thuỷ lợi phí nông dân phải trả cho các công ty trong vụ xuân là 300 kg thóc/ha và vụ mùa 250 kg thóc/ha. Ngoài ra nông dân phải trả thêm cho hợp tác xã trong vụ xuân là 90 kg thóc/ha và vụ mùa là 70 kg thóc/ha (Đoàn Doãn Tuấn và đồng nghiệp năm 1996). Đặc biệt sau nghị định 64 CP, trên một thửa ruộng của hợp tác xã trước kia, nay đã có nhiều hộ nông dân cùng canh tác với nhiều giống và thời vụ khác nhau đã làm cho việc sử dụng nước ngày càng lãng phí, mặc dù nhu cầu nước của cây lúa chỉ khoảng 3.800 m 3/ha, mà nước tưới thực tế biến động 3.246 m3/ha tuỳ theo lượng mưa của từng vụ [3]. Bên cạnh đó, hầu hết các công trình thuỷ nông có quá trình khai thác kém hiệu quả và hệ số dẫn nước kênh mương ở mức thấp nên việc sử dụng nước ngày càng lãng phí, sự mất cân đối trong thu chi của các công ty, xí nghiệp thuỷ nông khiến nhà nước phải trợ cấp một lượng kinh phí đáng kể.
Do vậy, việc đánh giá hoạt động của hệ thống thuỷ nông là rất cần thiết, giúp cho việc quản lý nguồn tài nguyên đất và tài nguyên nước một cách có hiệu quả. Ninh Giang là huyện nằm trong vùng lúa trọng điểm của tỉnh Hải Dương, kết quả chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ sang ô thửa lớn đã tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Là huyện thuần nông nên công tác thuỷ nông có vai trò quan trọng trong việc khai thác tiềm năng đất đai. Mặc dù hệ thống thuỷ nông đã được đầu tư xây dựng và tu bổ thường xuyên nhưng vẫn còn một số tồn tại và bất cập.
Khả năng chống úng, hạn chưa cao, đa số công trình đã xây dựng từ năm 1963, tiến độ thực hiện kiên cố hoá kênh mương đạt ở mức thấp. Những tồn tại này đã gây khó khăn cho công tác tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, chưa đáp ứng được nhu cầu thâm canh tăng vụ. Đánh giá sự hoạt động của hệ thống, đưa ra các giải pháp cải tạo nâng cấp giúp cho việc thực hiện tốt kế hoạch sử dụng đất là việc làm cần thiết. 2 Xuất phát từ nhận thức những vấn đề bất cập trên, được sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo, PGS.
Ts Nguyễn Văn Dung, giảng viên khoa Đất và Môi trường - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thuỷ nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương” 1. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu, phân tích, đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thuỷ nông huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương. Phát hiện những tồn tại và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ của hệ thống đối với công tác kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010.
Yêu cầu Các tài liệu, số liệu và thông tin trong công tác điều tra phải đầy đủ, chính xác, trung thực phản ánh đúng thực trạng hoạt động của hệ thống thuỷ nông huyện Ninh Giang. Đánh giá hiện trạng phải dựa trên cơ sở định tính, định lượng và khoa học. Đề xuất những giải pháp, kiến nghị trên cơ sở thực trạng hệ thống, phù hợp với điều kiện địa phương, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống phục vụ tốt cho kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Hệ thống thuỷ nông được hiểu là tập hợp các công trình thuỷ lợi có liên quan với nhau để tưới và tiêu cho các loại cây trồng trong lưu vực phục vụ của hệ thống.
Công trình thuỷ lợi bao gồm hồ chứa nước, trạm bơm, đập, cống, kênh mương, kè đê. Như vậy thuỷ nông được hiểu là thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, thuật ngữ thuỷ nông hiện nay được hiểu rộng hơn, không chỉ là tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn cấp nước cho cả sinh hoạt, công nghiệp, thuỷ sản v. nhưng nhiệm vụ tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp phải là nhiệm vụ chính.
Tình hình sử dụng nước 2. Tình hình sử dụng nước trên thế giới Nước bao phủ ba phần tư bề mặt trái đất, nước cũng chiếm ba phần tư cấu tạo các mô sinh vật. Trữ lượng nước trên trái đất có hạn và chu trình nước tiếp diễn liên tục từ dạng đặc sang dạng lỏng, chuyển sang dạng khí và ngược lại. Trong tổng lượng nước của trái đất chỉ có 3% là nước ngọt, trong đó chỉ có 0,3% là sẵn sàng dùng được cho chúng ta.
Hiện nay, ở nhiều vùng trên thế giới vào những thời điểm nhất định, có tình trạng thiếu nước vì con người không chỉ cần có nước mà nước phải đủ, đảm bảo về chất lượng, đúng lúc và đúng chỗ. Trong tự nhiên nước được luân chuyển theo một chu trình bay hơi và ngưng tụ liên tục gọi là chu trình thuỷ văn, nhờ đó mà nước tham gia vào chu trình phát triển của tất cả các hệ sinh thái. Theo tính toán lượng nước mưa hàng năm trên trái đất khoảng 105.000 km3, trong dó khoảng 1/3 thấm vào đất, tích đọng ở ao hồ và hình thành dòng chảy ra sông, 2/3 còn lại trở lại khí quyển. Tổng lượng nước trên trái đất khoảng 1,4 tỷ km3 nhưng 96,5% là nằm ở đại dương.
Nguồn nước ngọt mà con người có thể dùng được chỉ khoảng 2,53% tổng lượng nước toàn trái đất, còn lại đóng băng ở hai cực trái đất. Trong khi lượng mưa chủ yếu lại rơi trên đại dương, trung bình năm khoảng 990 mm, lục địa trung bình năm chỉ khoảng 650 - 670 mm, trên lục địa lượng mưa phân bố rất không đều nó 4 phụ thuộc vào khí hậu và địa hình, vùng nhiệt đới từ 2000 - 5000 mm/năm, vùng hoang mạc dưới 120 mm/năm [5]. Từ đó cho thấy nước là một thứ tài nguyên phân bố không đều, nhìn chung trên toàn thế giới từ một xứ khô cằn sang một vùng nhiệt đới lượng nước có thể biến đổi từ 1 - 1000. Nguồn nước trên trái đất chúng ta không phải là vô tận.
Vì vậy từ xa xưa tổ tiên loài người đã thấy được tầm quan trọng của nước và tìm cách cải tạo dòng nước tự nhiên, sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất: ở Ai Cập 5000 năm trước công nguyên con người đã xây dựng những đập giữ nước trên sông Nile, Trung Quốc 4000 năm trước đã xây dựng kênh đào tới 700 dặm, Ấn Độ cách chúng ta 20 thế kỷ đã có nhiều công trình chứa nước tưới cho lưu vực sông Indus. Cho đến vài thập kỷ gần đây, nhờ hệ thống thuỷ nông mà diện tích đất được tưới tăng tương đối ổn định. Năm 1972 diện tích đất được tưới của thế giới là 176.000 ha, năm 1982 tăng lên là 215. Trong đó chỉ riêng khu vực Châu Á diện tích đất được tưới năm 1972 là 113.000 ha và Trung Quốc là nước có diện tích đất được tưới lớn nhất trong khu vực và trên thế giới, diện tích đất được tưới năm 1992 là 49.000 ha, đến nay con số này là trên 5 triệu ha.
Cùng với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật và áp lực về an ninh lương thực của toàn nhân loại, diện tích đất được tưới không ngừng tăng, đây là điều đáng mừng cho ngành nông nghiệp thế giới. Ngày nay việc sử dụng nước của con người không ngừng tăng lên do dân số tăng, đầu thế kỷ 20 dân số toàn cầu là 1,6 tỷ người nhưng đến cuối năm 1999 đã đạt 6 tỷ, tăng 3,75 lần, điều này đã khiến cho nước dùng cho công nghiệp tăng 20 lần, nước dùng cho nông nghiệp tăng 7 lần, nước cho sinh hoạt tăng 10 lần. Ngoài sự gia tăng dân số khiến nhu cầu sử dụng nước gia tăng còn có các nguyên nhân khác như cách sống của con người thay đổi cần sử dụng nhiều nước hơn, nhất là nhu cầu nước sạch cung cấp cho các thành phố lớn.