Tổng quan nghiên cứu

Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia đặc biệt, trong đó hệ thống tọa độ chuẩn xác đóng vai trò xương sống cho công tác đo vẽ bản đồ địa chính, đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thành phố Hải Phòng – trung tâm kinh tế biển trọng điểm với tổng diện tích 1.519 km2 và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, nhu cầu quản lý biến động không gian ngày càng trở nên cấp thiết. Cuối năm 1995, địa phương được Tổng cục Địa chính bàn giao 284 điểm khống chế tọa độ cơ sở phủ trùm toàn thành phố. Tuy nhiên, đến cuối năm 2016, báo cáo chuyên ngành ghi nhận chỉ còn khoảng 128 mốc có khả năng khai thác sử dụng, tương đương tỷ lệ suy giảm hơn 54%. Hiện tượng mất mát, xê dịch và hư hỏng mốc trắc địa đã tạo ra rào cản kỹ thuật nghiêm trọng đối với việc đo vẽ bản đồ địa chính tại 116 xã, phường còn lại trong tổng số 224 đơn vị hành chính cấp xã.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý đất đai của tác giả Nguyễn Hữu Hải tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng mạng lưới mốc khống chế tọa độ nhà nước trên địa bàn 15 quận, huyện từ năm 1995 đến năm 2020. Mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ số lượng, mật độ phân bố mốc, phân tích nguyên nhân biến động và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, xã hội gắn với công nghệ định vị vệ tinh hiện đại. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần đẩy nhanh tiến độ số hóa 71.336,9 ha dữ liệu đất đai, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phục vụ chiến lược phát triển hạ tầng bền vững cho đô thị cảng Hải Phòng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết trắc địa cao cấp, lý thuyết lưới khống chế tọa độ nhà nước và các quy định của Luật Đo đạc và Bản đồ năm 2018 có hiệu lực từ ngày 01/01/2019. Về mặt toán học trắc địa, đề tài áp dụng Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc gia VN-2000 (sử dụng ellipsoid quy chiếu WGS-84, lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc UTM và điểm gốc tọa độ quốc gia N00) kết hợp với Khung tham chiếu Trái đất quốc tế ITRF. Hệ thống lý thuyết phân hạng phân định rõ tiêu chuẩn kỹ thuật từ lưới tọa độ cấp 0, hạng I, hạng II đến hạng III với các chỉ tiêu sai số vị trí điểm chặt chẽ từ vài milimét đến dưới 5 cm.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: Lưới khống chế tọa độ nhà nước (hệ thống các điểm mốc hình học cố định trên thực địa làm cơ sở thống nhất mặt bằng), Công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu GNSS, và Hệ thống trạm tham chiếu hoạt động liên tục GNSS CORS. Mạng lưới CORS hoạt động dựa trên việc truyền dẫn dữ liệu hiệu chỉnh tức thời qua mạng diện rộng WAN, cung cấp dịch vụ định vị động thời gian thực NRTK với độ chính xác cấp xăng-ti-mét. Bên cạnh đó, các quy chuẩn về kết cấu mốc bê tông đạt mác M25 theo tiêu chuẩn TCVN 6025:1995 và quy cách tường vây bảo vệ được sử dụng làm chuẩn đối sánh trong quá trình đánh giá thực địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát toàn bộ cỡ mẫu gồm 284 điểm mốc địa chính cơ sở bàn giao năm 1995 (trong đó có 194 điểm nội tỉnh Hải Phòng và 90 điểm thuộc vùng giáp ranh với Thái Bình, Hải Dương, Quảng Ninh), đồng thời theo dõi tổng thể 799 điểm lưới địa chính cấp 1 và 1.569 điểm cấp 2 trên địa bàn 15 quận, huyện. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm đảm bảo tính đồng bộ, không bỏ sót các vị trí đặc thù tại khu vực ven biển, hải đảo và các tâm điểm phát triển hạ tầng. Lý do lựa chọn phương pháp này là vì mạng lưới trắc địa đòi hỏi tính liên kết hình học liên tục; sự gián đoạn của một vài điểm nút có thể làm sai lệch toàn bộ kết quả đo nối không gian.

Quy trình xử lý kết hợp điều tra hồi cứu từ Báo cáo số 408/BC-TTKTTN-MT của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên - Môi trường Hải Phòng với phương pháp khảo sát thực địa, đối soát trên nền bản đồ số vệ tinh và phần mềm GIS. Phương pháp thống kê toán học và phân tích so sánh không gian được lựa chọn để lượng hóa mức độ hao hụt mốc theo từng địa bàn hành chính tương ứng với tốc độ đô thị hóa. Toàn bộ chuỗi dữ liệu được xử lý xuyên suốt theo trục thời gian 25 năm, từ mốc thiết lập năm 1995 đến giai đoạn khảo sát, đánh giá chuyên sâu năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực trạng hệ thống mốc khống chế tọa độ tại Hải Phòng ghi nhận 3 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mức độ suy giảm mốc diễn ra đặc biệt nghiêm trọng tại các quận nội thành có tốc độ đô thị hóa cao. Tại quận Hồng Bàng, tỷ lệ mất mốc lên tới 80% khi chỉ còn lại 1/5 mốc sử dụng được. Quận Ngô Quyền ghi nhận mất 75% số mốc (chỉ còn 2/8 mốc tồn tại trên thực địa). Tại quận Hải An, trong số 10 mốc ban đầu chỉ còn 4 mốc, nhưng thực tế chỉ khai thác được 3 mốc do điểm Cảng Chùa Vẽ đã bị phủ tôn chống nóng che khuất tầm ngắm, đưa tỷ lệ mất mốc sử dụng lên 70%.

Thứ hai, khu vực ven đô và hải đảo có tỷ lệ bảo tồn mốc cao hơn rõ rệt nhờ địa hình tự nhiên thuận lợi. Quận Dương Kinh duy trì tốt nhất khu vực nội ngoại thành với 8/9 mốc còn nguyên vẹn, đạt tỷ lệ 88,9%. Quận Đồ Sơn giữ được 8/11 mốc (tỷ lệ duy trì 72,7%), trong khi huyện đảo Cát Hải còn 11/13 mốc (đạt 84,6%), phần lớn nhờ các mốc được gắn kiên cố trên núi đá và khuôn viên cơ quan nhà nước.

Thứ ba, sự thiếu hụt mạng lưới mốc gây ảnh hưởng trực tiếp đến độ phủ của bản đồ địa chính số. Toàn thành phố mới chỉ có 108/224 xã, phường, thị trấn hoàn thành đo vẽ bản đồ địa chính số với diện tích 71.336,9 ha (đạt 48,2% số đơn vị hành chính và 47,2% diện tích tự nhiên). Toàn bộ 6 huyện ngoại thành vẫn chưa có hệ thống bản đồ địa chính số hoàn chỉnh, tạo nên nút thắt lớn trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thảo luận kết quả

Khi thể hiện dữ liệu qua biểu đồ hình cột phân bố mốc theo 15 đơn vị hành chính và bảng đối sánh tỷ lệ mất mốc với tiến độ xây dựng hạ tầng, mối tương quan nghịch thể hiện rất rõ nét: khu vực có tốc độ mở rộng công trình giao thông và dự án bất động sản trên 60% thì tỷ lệ mất mốc trắc địa vượt ngưỡng 70%. Nguyên nhân chính bao gồm: hoạt động san lấp bãi cảng, mở rộng các tuyến giao thông trọng điểm như đường Lê Hồng Phong, đảo Đình Vũ; chuyển đổi đất nông nghiệp sang đào ao, xây nhà gây sụt lún nghiêng mốc; và sự phát triển của các khối nhà cao tầng gây góc che khuất vệ tinh lớn hơn 30 độ.

So với dữ liệu tổng kết ngành đo đạc toàn quốc ghi nhận tỷ lệ mất mốc trung bình từ 35% đến 40%, tỷ lệ mất mốc hơn 54% tại Hải Phòng cao hơn đáng kể do thành phố là đại công trường phát triển công nghiệp cảng biển. Kết quả này phản ánh rằng mô hình bảo quản mốc bê tông truyền thống bộc lộ nhiều điểm hạn chế trước làn sóng đô thị hóa nhanh. Do đó, việc ứng dụng các giải pháp công nghệ mới như trạm định vị vệ tinh liên tục GNSS CORS là xu thế tất yếu nhằm giảm sự phụ thuộc vào hệ thống mốc mặt đất cố định.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm hoàn thiện mạng lưới trắc địa phục vụ quản lý đất đai:

Thứ nhất, chuyển đổi mạnh mẽ sang công nghệ định vị vệ tinh qua hệ thống trạm GNSS CORS. Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng phối hợp cùng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam tích hợp vận hành các trạm CORS thuộc dự án 65 trạm toàn quốc (gồm 24 trạm Geodetic và 41 trạm NRTK với mật độ 50-80 km/trạm). Mục tiêu kỹ thuật là đạt sai số định vị tức thời dưới 2 cm, phủ sóng 100% diện tích thành phố, hoàn thành triển khai trong giai đoạn 2021-2025.

Thứ hai, tổ chức khôi phục và tăng dày hệ thống mốc tọa độ hạng II, hạng III tại các khu vực trọng điểm. Ủy ban nhân dân thành phố cấp kinh phí giao Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên - Môi trường thiết kế chêm điểm, khôi phục tối thiểu 50 mốc trắc địa chuẩn tại 7 quận nội thành và 6 huyện ngoại thành trước năm 2023. Các mốc mới phải bảo đảm mác bê tông M25, góc mở bầu trời lớn hơn 150 độ và cách xa công trình kiến trúc lớn.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực bảo vệ công trình đo đạc. Ủy ban nhân dân 15 quận, huyện và 224 Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nghiêm túc công tác bàn giao, kiểm kê mốc định kỳ 1 năm/lần. Ban hành quy chế xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm hại mốc theo Nghị định của Chính phủ, gắn mã QR định danh và số hóa vị trí mốc lên cơ sở dữ liệu dùng chung trước năm 2024.

Thứ tư, đẩy nhanh tiến độ đo vẽ bản đồ địa chính số tại 116 xã, thị trấn chưa có dữ liệu chuẩn. Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố tập trung nguồn lực đo đạc đồng bộ trên nền tọa độ mới, phấn đấu nâng tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức từ 85% lên trên 95% và cơ sở tôn giáo từ 58% lên trên 80% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Tài liệu luận văn mang lại giá trị thực tiễn và cơ sở dữ liệu chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và đất đai từ cấp tỉnh đến cơ sở. Luận văn cung cấp bức tranh số liệu hiện trạng của 128 mốc tọa độ, giúp Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng xây dựng kế hoạch đầu tư công nghệ đo đạc, phân bổ nguồn lực số hóa bản đồ cho 224 đơn vị cấp xã một cách tối ưu.

Nhóm thứ hai là các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đo đạc bản đồ trên địa bàn thành phố (bao gồm 13 đơn vị đã được cấp phép chính thức). Báo cáo thực địa chi tiết theo từng quận, huyện giúp các kỹ sư trắc địa tiết kiệm từ 30% đến 50% thời gian khảo sát tìm kiếm điểm gốc, tránh sử dụng các mốc đã bị lún nghiêng hoặc che khuất.

Nhóm thứ ba là các đơn vị tư vấn thiết kế quy hoạch đô thị, giao thông và xây dựng công trình cảng biển. Nguồn tài liệu giúp chuẩn hóa hệ quy chiếu VN-2000 trong các đồ án quy hoạch liên vùng, đảm bảo tính liên kết không gian chính xác tuyệt đối giữa các dự án hạ tầng lớn ven sông Lạch Tray, sông Cấm và đảo Cát Hải.

Nhóm thứ tư là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý đất đai, Kỹ thuật Trắc địa - Bản đồ, Địa tin học (GIS). Đề tài là case study điển hình về phương pháp khảo sát thực địa, phân tích chuỗi biến động dữ liệu không gian và chuyển đổi công nghệ đo đạc trong bối cảnh đô thị hóa nhanh.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến hệ thống mốc khống chế tọa độ tại Hải Phòng bị mất mát hơn 54% sau 25 năm là gì?

Nguyên nhân chủ yếu do tốc độ đô thị hóa và xây dựng hạ tầng giao thông diễn ra quá nhanh. Nhiều điểm mốc bị san lấp khi mở rộng đường Lê Hồng Phong, xây dựng bãi cảng Đình Vũ và nâng cấp sân bay Cát Bi. Trong tổng số 284 điểm bàn giao năm 1995, đến năm 2016 chỉ còn 128 mốc sử dụng được, nhiều quận trung tâm như Hồng Bàng mất tới 80% số mốc.

Công nghệ mạng lưới trạm định vị vệ tinh liên tục GNSS CORS mang lại ưu thế gì so với mốc trắc địa truyền thống?

Công nghệ GNSS CORS truyền tín hiệu hiệu chỉnh liên tục qua mạng WAN, cho phép xác định tọa độ và độ cao tức thời với độ chính xác từ 1 đến 2 cm ngay tại thực địa. Công nghệ này giúp tiết kiệm khoảng 70% chi phí xây dựng mốc bê tông M25, loại bỏ rủi ro mất mốc do san lấp và đảm bảo tính thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Tình trạng thiếu hụt mốc tọa độ ảnh hưởng thế nào đến công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Hải Phòng?

Việc thiếu mốc chuẩn khiến 116/224 xã, phường với hơn 52% diện tích (chủ yếu tại 6 huyện ngoại thành) chưa thể thành lập bản đồ địa chính số. Điều này gây khó khăn cho việc xác định ranh giới thửa đất, kéo dài thời gian thụ lý hồ sơ và khiến tỷ lệ cấp giấy chứng nhận cho cơ sở tôn giáo mới chỉ đạt 58%.

Quy cách kỹ thuật xây dựng mốc tọa độ hạng II và hạng III được quy định cụ thể như thế nào?

Mốc hạng II và III được đúc bằng bê tông mác M25 với kết cấu 2 tầng kiên cố, nắp đậy mặt trên cách mặt đất 30 cm. Tường vây bảo vệ có kích thước 100 cm x 50 cm x 20 cm. Dấu mốc bằng sứ hoặc kim loại không gỉ có khắc chữ thập tâm với sai số lệch tâm giữa các tầng không được vượt quá 3 mm.

Lưới tọa độ quốc gia VN-2000 tại Hải Phòng liên kết với Khung tham chiếu quốc tế ITRF theo cơ chế nào?

Hệ tọa độ VN-2000 sử dụng ellipsoid WGS-84 với điểm gốc N00 và 25 điểm định vị cơ sở GPS nối với lưới ITRS. Mạng lưới cấp 0 phân bố khoảng 10.000 km2/điểm được đo lặp định kỳ 15 năm/lần, trong đó các điểm đặc biệt liên kết ITRF được đo lặp 1 năm/lần để xác định tham số tính chuyển và quan trắc chuyển dịch vỏ Trái đất.

Kết luận

Nghiên cứu của học viên Nguyễn Hữu Hải đã mang lại những đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật cho công tác quản lý đất đai đô thị:

  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh chính xác về sự suy giảm hệ thống mốc khống chế tọa độ Hải Phòng sau 25 năm vận hành từ 1995 đến 2020.
  • Thống kê chi tiết thực trạng 128/284 điểm mốc còn sử dụng được, chỉ rõ nguy cơ mất mốc lên tới 80% tại các quận trung tâm đô thị hóa cao.
  • Xác định rõ điểm nghẽn kỹ thuật ảnh hưởng trực tiếp đến 116 xã, phường chưa hoàn thành đo vẽ bản đồ địa chính số trên diện tích hơn 80.000 ha.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc hiện đại hóa công nghệ đo đạc, chuyển dịch từ hệ thống mốc cố định sang mạng lưới 65 trạm GNSS CORS quốc gia.
  • Đề xuất khung 4 giải pháp đồng bộ kết hợp giữa kỹ thuật chêm dày mốc mác M25, siết chặt quản lý phân cấp và số hóa quy trình địa chính đến năm 2030.

Luận văn là nguồn tham chiếu khoa học quan trọng cho Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng trong việc lập kế hoạch nâng cấp hạ tầng đo đạc giai đoạn 2021-2030. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp khảo sát và nhà nghiên cứu hãy khai thác ngay cơ sở dữ liệu này để nâng cao độ chính xác đo vẽ, góp phần thúc đẩy xây dựng đô thị thông minh và hiện đại hóa công tác quản lý đất đai.