Tổng quan luận án
Công trình khoa học "Đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch lãnh thổ Thái Nguyên – Tuyên Quang – Bắc Kạn trên quan điểm phát triển bền vững" do nghiên cứu sinh Phạm Thu Thủy thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Trung Lương, thuộc chuyên ngành Địa lí tự nhiên (mã số 62.17).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc thù của du lịch – một ngành kinh tế có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên giữ vai trò quyết định trong việc tạo lập hiệu quả kinh tế cũng như chi phối việc tổ chức không gian lãnh thổ du lịch, hình thành các điểm, cụm và tuyến du lịch. Trong bối cảnh tài nguyên và môi trường tự nhiên tại vùng trung du miền núi phía Bắc đang đối mặt với sự suy thoái dưới tác động của hoạt động nhân sinh và biến đổi khí hậu, việc đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch trên quan điểm phát triển bền vững là cơ sở khoa học để quản lý và khai thác hiệu quả. Lãnh thổ ba tỉnh Thái Nguyên – Tuyên Quang – Bắc Kạn (TN – TQ – BK) thuộc tiểu vùng du lịch Đông Bắc, vừa mang đặc điểm vùng núi cao vừa có tính chất trung du, sở hữu tiềm năng du lịch phân hóa đa dạng nhưng đang chịu tác động lớn từ phát triển kinh tế và vùng đô thị Hà Nội.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Trước thời điểm luận án triển khai, các nghiên cứu du lịch trên địa bàn ba tỉnh còn mang tính cục bộ, riêng lẻ, thiếu góc nhìn liên kết vùng lãnh thổ tự nhiên; đồng thời chưa có công trình nào đánh giá một cách tổng thể các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch lồng ghép chặt chẽ với tiêu chí phát triển bền vững và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu.
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên (ĐKTN), tài nguyên du lịch (TNDL), xây dựng cơ sở khoa học cho phát triển bền vững du lịch lãnh thổ TN – TQ – BK.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua bốn nội dung:
- Tổng quan cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá tổng hợp các ĐKTN và TNDL làm căn cứ để hình thành quan điểm và phương pháp đánh giá vận dụng trong đề tài.
- Đánh giá các ĐKTN, TNDL; Hiện trạng phát triển du lịch lãnh thổ TN – TQ – BK và những vấn đề đặt ra ảnh hưởng đến tính bền vững trong phát triển du lịch của lãnh thổ.
- Nghiên cứu đề xuất tổ chức lãnh thổ du lịch TN – TQ – BK trên quan điểm khai thác có hiệu quả các điều kiện và giá trị TNDL hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
- Nghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp cho phát triển du lịch bền vững lãnh thổ TN – TQ – BK.
Đối tượng nghiên cứu: ĐKTN và TNDL tự nhiên (có kết hợp xem xét TNDL nhân văn trong một số nội dung liên quan), hiện trạng phát triển du lịch, tổ chức lãnh thổ và các giải pháp bảo đảm tính bền vững. Trọng tâm đánh giá tập trung vào mức độ thuận lợi của tài nguyên đối với 3 loại hình du lịch chính: du lịch tham quan (DLTQ), du lịch nghỉ dưỡng (DLND) và du lịch sinh thái (DLST).
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Giới hạn trong địa giới hành chính của ba tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Bắc Kạn.
- Phạm vi thời gian: Phân tích các chuỗi số liệu tự nhiên, kinh tế - xã hội và du lịch giai đoạn từ năm 2010 đến 2015, có tham chiếu các số liệu dự báo đến năm 2020 và định hướng phát triển đến năm 2030.
Luận án xây dựng hai luận điểm bảo vệ:
- Luận điểm 1: Lãnh thổ TN – TQ – BK có ĐKTN, TNDL đa dạng, phong phú, đặc thù cho khu vực vùng núi và trung du Bắc Bộ; Đây vừa là tiềm năng vừa là lợi thế cạnh tranh cho phát triển các loại hình du lịch đặc thù của lãnh thổ trong hiện tại và tương lai.
- Luận điểm 2: Lãnh thổ TN – TQ – BK có lợi thế phát triển 3 loại hình du lịch: DLTQ, DLND, DLST dựa trên tính đặc trưng của ĐKTN và TNDL tự nhiên. Kết quả đánh giá cho thấy mức độ thuận lợi của ĐKTN, TNDL tự nhiên cũng như các yếu tố tác động đến tính bền vững của 3 loại hình du lịch trên. Đó là cơ sở khoa học quan trọng để đề xuất các định hướng và giải pháp khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Văn bản luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và phát triển du lịch bền vững theo các không gian học thuật:
Trên thế giới:
- Tại Liên Xô (cũ) và Đông Âu: Vào thập niên 1960 – 1970, I. Misônhitrencô nghiên cứu toàn bộ tiêu chí tự nhiên làm tiền đề tổ chức các vùng DLND. Mukhina (1973) đánh giá vùng hồ Xelighe dựa trên các hệ thống tự nhiên trên đất liền và dưới nước, phân tích trầm tích, độ cao, độ dốc, kiểu đất, thảm thực vật để phân hóa không gian nghỉ ngơi. Phêrôrốp đề xuất phương pháp đánh giá khí hậu tổng hợp qua tổ hợp thời tiết, được Subukốp và I. Đêmina hoàn thiện trong nghiên cứu sinh khí hậu (SKH). Ixatsenko (1985) đánh giá mức độ thích hợp của khí hậu, môi trường địa lý đối với công trình và loại hình du lịch. Pirôjnhic (1985) đánh giá tổng hợp TNDL, luồng khách và cơ sở vật chất theo vùng nghỉ dưỡng. Các học giả Bungari phát triển mô hình đánh giá tài nguyên tự nhiên, nước khoáng nóng phục vụ DLND và điều dưỡng.
- Tại châu Á: Từ những năm 1970, Ấn Độ và Nhật Bản kiểm kê các thành phần tự nhiên (như đánh giá bãi biển). Từ năm 1980, các nhà địa lý Trung Quốc áp dụng bảng phân loại của UNWTO để kiểm kê, đánh giá tài nguyên du lịch toàn quốc.
- Tại Mỹ và Tây Âu: P. Robinson cùng các nhà nghiên cứu phương Tây tiếp cận đánh giá tài nguyên giải trí dựa trên khả năng tiếp cận, chất lượng môi trường, địa hình, mạng lưới giao thông rừng và số ngày mưa. Các công cụ định lượng được ứng dụng bao gồm phương pháp ma trận, phân tích chi phí - lợi ích (CBA), chi phí du hành (TCM) và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM).
- Về du lịch bền vững: Từ thập niên 1980, nghiên cứu quốc tế chia thành hai hướng: (1) Tiếp cận tổng thể cấp quốc gia rồi xây dựng mô hình điểm (Úc với Great Barrier Reef, Mỹ với Florida, Malaysia với Langkawi); (2) Rút kinh nghiệm từ mô hình điểm để xây dựng chính sách toàn quốc (Nepal với Annapurna, Ecuador với Galapagos, Senegal với Casamance).
Tại Việt Nam:
- Các nghiên cứu quy hoạch vĩ mô: Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch thực hiện các Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam các giai đoạn 1995 – 2010, định hướng đến 2020 và tầm nhìn 2030; quy hoạch du lịch vùng Bắc Bộ, Trung du và miền núi Bắc Bộ.
- Nghiên cứu khí hậu và sinh khí hậu: Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc (1982) với "Khí hậu với đời sống"; Nguyễn Khanh Vân và Đặng Kim Nhung (1994) xây dựng tổ hợp thời tiết đánh giá nghỉ dưỡng; Nguyễn Khanh Vân trong giáo trình "Cơ sở sinh khí hậu" thiết lập cơ sở thành lập bản đồ SKH người cho DLND.
- Địa lý du lịch và đánh giá tài nguyên: Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1990s) trong "Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam" xác định tiêu chí tính nguyên vẹn, tính hấp dẫn, tính dung lượng. Nguyễn Minh Tuệ và nnk với giáo trình "Địa lí du lịch"; Bùi Thị Hải Yến, Phạm Hồng Long với "Tài nguyên du lịch" và "Quy hoạch du lịch".
- Phạm Trung Lương có hệ thống công trình đóng góp lớn: "Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam" (2000) đặt nền móng ứng dụng GIS trong phân tích không gian du lịch; đề tài đánh giá địa hình phục vụ du lịch thể thao mạo hiểm vùng núi phía Bắc; các đề tài cấp nhà nước và tài liệu hướng dẫn về DLST, du lịch bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu trong ngành du lịch.
- Các luận án đánh giá theo địa bàn: Nguyễn Thế Chinh (Nghệ An), Nguyễn Thanh Sơn (Hải Phòng), Lê Văn Tin (Thừa Thiên Huế), Nguyễn Tưởng (duyên hải Thừa Thiên Huế – Quảng Nam – Đà Nẵng), Nguyễn Thị Sơn (VQG Cúc Phương), Đặng Duy Lợi (huyện Ba Vì), Đỗ Trọng Dũng (tiểu vùng miền núi Tây Bắc), Nguyễn Hữu Xuân (Đà Lạt và phụ cận).
- Tại địa bàn Thái Nguyên – Tuyên Quang – Bắc Kạn: Các đề án quy hoạch du lịch địa phương của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh; các bộ "Địa chí Thái Nguyên", "Địa chí Tuyên Quang"; các đề tài của Trần Thị Thảo (du lịch bền vững Thái Nguyên), Nguyễn Lan Anh (du lịch Thái Nguyên và phụ cận), Đỗ Tuyết Ngân (du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể).
Khoảng trống được luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước chủ yếu dừng lại ở việc kiểm kê tài nguyên riêng lẻ, đánh giá tiềm năng thuần túy mang nặng tính định tính, chưa có sự lồng ghép với khung chỉ tiêu phát triển bền vững và biến đổi khí hậu. Đặc biệt, chưa có công trình nào đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch cho toàn bộ không gian liên kết ba tỉnh TN – TQ – BK bằng phương pháp bán định lượng kết hợp công nghệ GIS ở tỷ lệ chi tiết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm:
- Khái niệm nền tảng: Du lịch, điểm du lịch (quốc gia, địa phương), tuyến du lịch, sản phẩm du lịch, loại hình du lịch được luận án vận dụng trên cơ sở Luật Du lịch Việt Nam (2005) và hướng dẫn của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO).
- Ba loại hình du lịch đánh giá: (1) Du lịch tham quan (DLTQ) với mục đích thưởng ngoạn, tìm hiểu cảnh quan tự nhiên và văn hóa xã hội; (2) Du lịch nghỉ dưỡng (DLND) nhằm tái tạo sức lao động, phục hồi sức khỏe tại nơi có sinh khí hậu trong lành và nguồn nước khoáng; (3) Du lịch sinh thái (DLST) tiếp cận theo quan niệm của Hector Ceballos (1992) và Luật Du lịch (2005), dựa vào thiên nhiên hoang sơ, gắn với văn hóa bản địa và bảo tồn.
- Phân định ĐKTN và TNDL: ĐKTN là toàn bộ các thành phần môi trường tự nhiên chi phối đời sống nhưng không tham gia trực tiếp vào sản xuất vật chất. Khi các yếu tố này được khai thác để đáp ứng nhu cầu du lịch thì trở thành TNDL. TNDL tự nhiên gồm địa hình, khí hậu, nước và sinh vật; TNDL nhân văn gồm di tích, lễ hội, làng nghề và các giá trị dân tộc học.
- Phát triển bền vững và du lịch bền vững: Luận án kế thừa quan điểm của Ủy ban Brundtland (WCED, 1987), IUCN (1980), các hội nghị thượng đỉnh Rio-92 và Rio-92+5 về sự dung hòa giữa ba hệ thống: tự nhiên, kinh tế và xã hội; tiếp thu định nghĩa du lịch bền vững của UNWTO (1992) và định nghĩa của các nhà khoa học Việt Nam (Phạm Trung Lương, 2002).
- Hệ thống quan điểm nghiên cứu: Quan điểm tổng hợp (nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành phần địa lý); Quan điểm hệ thống (xem lãnh thổ là hệ thống mở tương tác giữa tự nhiên – dân cư – du lịch); Quan điểm lãnh thổ (gắn tài nguyên với không gian phân bố cụ thể); Quan điểm môi trường – sinh thái (bảo vệ cân bằng sinh thái); Quan điểm phát triển bền vững (khai thác đi đôi với bảo tồn).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái: Vận dụng quy trình của Nguyễn Cao Huần (2005) qua các bước: xác định mục tiêu, lập bảng thống kê đặc điểm tự nhiên, lựa chọn tiêu chí/chỉ tiêu, đánh giá thành phần, tính điểm đánh giá chung (bán định lượng qua bình quân/trọng số) và kiểm chứng thực tế. Luận án tích hợp 3 kiểu đánh giá: tâm lý - thẩm mỹ (độ hấp dẫn cảnh quan), sinh khí hậu (thời gian thích hợp cho sức khỏe và hoạt động ngoài trời) và kỹ thuật (độ dốc, cự ly tiếp cận, quy mô khả dĩ).
- Phương pháp thu thập, phân tích, xử lý số liệu: Thu thập chuỗi tài liệu thứ cấp về tự nhiên, khí tượng thủy văn, kinh tế - xã hội từ các cơ quan quản lý.
- Phương pháp thực địa: Tiến hành qua nhiều đợt khảo sát từ năm 2010 đến 2016 tại các điểm du lịch tiêu biểu và tiềm năng của ba tỉnh: hồ Núi Cốc, ATK Định Hóa (Thái Nguyên); VQG Ba Bể, hồ Ba Bể (Bắc Kạn); hồ thủy điện Na Hang, thác Bản Ba, suối khoáng Mỹ Lâm, di tích Tân Trào (Tuyên Quang).
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn các nhà khoa học thuộc Viện Địa lí (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, kết hợp phỏng vấn cán bộ quản lý địa phương và cộng đồng dân cư.
- Ứng dụng công nghệ GIS và nội suy không gian: Xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý, chồng xếp các bản đồ chuyên đề thành phần (địa hình, thảm thực vật, sinh khí hậu) để thành lập bản đồ đánh giá thích nghi ở tỷ lệ 1:100.000.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch du lịch từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường ba tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn.
- Số liệu thống kê từ Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Viện Điều tra Quy hoạch phát triển rừng, Tổng cục Du lịch.
- Tư liệu bản đồ: Bản đồ địa hình, bản đồ thảm thực vật tỷ lệ 1:100.000; bản đồ quy hoạch phát triển du lịch ba tỉnh tỷ lệ 1:320.000; số liệu quan trắc khí hậu nhiều năm tại các trạm khí tượng trong khu vực.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận - phương pháp nghiên cứu, đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch bền vững
Chương này dành 43 trang để làm rõ khung lý luận và công cụ đánh giá. Tác giả tổng quan chi tiết các trường phái nghiên cứu TNDL tại Liên Xô, Đông Âu, châu Á, Tây Âu và Việt Nam; phân tích sự tiến hóa của khái niệm du lịch bền vững từ Hội nghị Rio-92 đến các mô hình quản lý hiện đại. Luận án phân định tường minh giữa ĐKTN và TNDL, xác lập các tiêu chuẩn công nhận điểm và tuyến du lịch theo pháp luật Việt Nam. Về mặt phương pháp luận, chương 1 khẳng định việc tiếp cận theo hướng đánh giá thích nghi sinh thái kết hợp tính toán bán định lượng là phương án tối ưu. Các tiêu chí đánh giá tự nhiên được lựa chọn bao gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật; các tiêu chí đánh giá điểm tài nguyên gồm cấp độ xếp hạng, thời gian khai thác trong năm và quy mô khai thác. Tác giả thiết lập hệ thống bậc đánh giá gồm: Rất thuận lợi (RTL), Thuận lợi (TL), Thuận lợi trung bình (TLTB), Khá thuận lợi (KTL) hoặc Ít thuận lợi (ITL).
Chương 2: Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên - tài nguyên du lịch cho phát triển du lịch bền vững lãnh thổ Thái Nguyên – Tuyên Quang – Bắc Kạn
Chương 2 là nội dung thực nghiệm trung tâm của luận án (từ trang 44 đến 89), tập trung xử lý dữ liệu và đánh giá mức độ thuận lợi của tự nhiên cho từng loại hình du lịch:
- Phân tích điều kiện tự nhiên nền tảng: Vị trí địa lý chuyển tiếp giữa trung du và vùng núi cao chi phối sâu sắc sự phân hóa cảnh quan. Luận án phân tích chuỗi dữ liệu nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm trung bình nhiều năm của hệ thống trạm khí tượng trong vùng; phân cấp nhiệt độ trung bình năm, độ dài mùa lạnh, lượng mưa trung bình năm và số ngày mưa để xây dựng hệ chỉ tiêu tổng hợp đánh giá điều kiện sinh khí hậu (SKH).
- Đánh giá thích nghi cho du lịch tham quan (DLTQ): Đánh giá mức độ thuận lợi của các kiểu địa hình (đặc biệt là địa hình karst, núi cao, thung lũng); đánh giá SKH cho hoạt động ngoài trời; đánh giá tài nguyên sinh vật (các kiểu thảm thực vật, độ che phủ rừng) và hệ thống thắng cảnh. Tác giả tổng hợp điểm số và giá trị của các điểm thắng cảnh tự nhiên nổi bật trên địa bàn ba tỉnh.
- Đánh giá thích nghi cho du lịch nghỉ dưỡng (DLND): Đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về thời gian thích hợp của sinh khí hậu đối với sức khỏe con người (nhiệt độ mát mẻ, áp suất ổn định, không có hiện tượng thời tiết cực đoan kéo dài), kết hợp với yếu tố địa hình yên tĩnh, vi khí hậu vùng hồ (hồ Núi Cốc, hồ Ba Bể) và nguồn tài nguyên nước khoáng (suối khoáng Mỹ Lâm).
- Đánh giá thích nghi cho du lịch sinh thái (DLST): Tập trung vào tính đa dạng sinh học, tính nguyên vẹn của các hệ sinh thái rừng tại VQG Ba Bể, KBTTN Na Hang và các khu rừng tự nhiên đặc trưng.
- Đánh giá chung cho cả ba loại hình: Chồng xếp các bản đồ đánh giá thành phần bằng công cụ GIS ở tỷ lệ 1:100.000 để xác định các khu vực có mức độ thuận lợi tổng hợp từ rất thuận lợi đến ít thuận lợi trên toàn lãnh thổ nghiên cứu.
Hệ thống các chỉ tiêu và bảng biểu đánh giá tiêu biểu được tác giả xây dựng trong Chương 2 được tóm tắt tại bảng sau:
| Nhóm nội dung đánh giá |
Chỉ tiêu và đối tượng phân tích cụ thể |
Bậc phân loại và mức độ thuận lợi |
| Sinh khí hậu (SKH) |
Nhiệt độ trung bình năm, độ dài mùa lạnh, lượng mưa năm, số ngày mưa trong năm. |
Rất thuận lợi (RTL), Thuận lợi (TL), Thuận lợi trung bình (TLTB), Ít thuận lợi (ITL). |
| Địa hình |
Kiểu hình thái địa hình (núi cao, karst, trung du, thung lũng), độ dốc, tính hấp dẫn cảnh quan. |
Phân cấp mức độ thích nghi đối với từng loại hình: DLTQ, DLND, DLST. |
| Sinh vật & Cảnh quan |
Các kiểu thảm thực vật, độ che phủ, tính đa dạng sinh học, mật độ các điểm thắng cảnh. |
Xác định giá trị phát triển du lịch của điểm tài nguyên, xếp hạng quy mô khai thác. |
| Đánh giá tổng hợp |
Tích hợp điểm số ĐKTN và TNDL qua GIS tỷ lệ 1:100.000 cho 3 loại hình. |
Phân vùng lãnh thổ theo 4 bậc thuận lợi phục vụ định hướng không gian du lịch. |
Chương 3: Định hướng và những giải pháp phát triển du lịch bền vững lãnh thổ Thái Nguyên – Tuyên Quang – Bắc Kạn
Chương 3 (từ trang 90 đến 126) đối chiếu kết quả đánh giá tự nhiên với thực trạng và quy hoạch phát triển:
- Hiện trạng phát triển du lịch giai đoạn 2010 – 2015: Luận án phân tích lượng khách du lịch và thu nhập du lịch tại ba địa phương qua các bảng số liệu thực tế. Mặc dù lượng khách có sự tăng trưởng nhưng nguồn thu du lịch còn khiêm tốn, tính mùa vụ cao, cơ sở hạ tầng giao thông kết nối liên tỉnh còn nhiều hạn chế.
- Những vấn đề đặt ra dưới góc độ bền vững: Hoạt động khai thác tài nguyên đang bộc lộ nguy cơ xung đột với bảo tồn môi trường; sức ép phát triển kinh tế và đô thị hóa gây suy thoái cảnh quan; biến đổi khí hậu gia tăng hiện tượng thời tiết cực đoan (mưa lớn gây sạt lở đất tại vùng núi Bắc Kạn, Tuyên Quang; hạn hán cục bộ ảnh hưởng mực nước các hồ).
- Cơ sở và định hướng không gian phát triển: Dựa trên bản đồ đánh giá chung, tác giả đề xuất định hướng phát triển không gian du lịch liên kết ba tỉnh, kết nối các cụm điểm: hồ Núi Cốc – ATK Định Hóa (Thái Nguyên) liên kết Tân Trào – Mỹ Lâm – Na Hang (Tuyên Quang) và Ba Bể (Bắc Kạn). Định hướng ưu tiên phát triển 3 loại hình chủ lực có lợi thế cạnh tranh cao là DLTQ, DLND và DLST.
- Hệ thống giải pháp phát triển bền vững:
- Khai thác hợp lý, bảo tồn và tôn tạo tài nguyên du lịch: Xác định sức chứa du lịch tại các khu bảo tồn nhạy cảm (VQG Ba Bể, KBTTN Na Hang); kiểm soát tác động môi trường.
- Ưu tiên phát triển các loại hình du lịch lợi thế của lãnh thổ: Thiết kế sản phẩm du lịch đặc thù tránh trùng lặp giữa ba tỉnh.
- Giải pháp quy hoạch cho phát triển du lịch: Hoàn thiện quy hoạch không gian liên vùng, gắn kết tuyến điểm nội vùng và liên vùng Đông Bắc.
- Giải pháp phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật: Nâng cấp mạng lưới giao thông đường bộ nối Thái Nguyên – Bắc Kạn và Tuyên Quang.
- Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu: Xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai, sạt lở, bảo vệ nguồn nước và thảm phủ thực vật nhằm bảo đảm an toàn cho các hoạt động du lịch.
- Một số giải pháp khác: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá và liên kết quản lý liên tỉnh.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học và phương pháp luận:
- Luận án đã hoàn thiện quy trình đánh giá thích nghi sinh thái điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch ở quy mô liên tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc, kết hợp giữa phương pháp bán định lượng, phương pháp chuyên gia và công nghệ GIS.
- Xây dựng được hệ thống chỉ tiêu phân loại sinh khí hậu sức khỏe con người ứng dụng riêng cho việc xác định thời gian và mức độ thuận lợi khai thác du lịch nghỉ dưỡng và tham quan ngoài trời tại địa bàn nghiên cứu.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Thành lập hệ thống bản đồ chuyên đề ở tỷ lệ 1:100.000 gồm: Bản đồ phân loại sinh khí hậu lãnh thổ TN – TQ – BK; các bản đồ đánh giá thành phần (địa hình, sinh vật, cảnh quan); các bản đồ đánh giá thích nghi riêng biệt cho ba loại hình (DLTQ, DLND, DLST) và bản đồ đánh giá tổng hợp chung cho toàn lãnh thổ.
- Xác định rõ mức độ thuận lợi của từng tiểu vùng cảnh quan và giá trị của các điểm du lịch tiêu biểu (hồ Ba Bể, suối khoáng Mỹ Lâm, hồ Núi Cốc, Na Hang...), cung cấp luận cứ cho việc xếp hạng và ưu tiên đầu tư.
- Đề xuất khung định hướng không gian tổ chức lãnh thổ du lịch liên tỉnh TN – TQ – BK và hệ thống các giải pháp đồng bộ gắn với bảo tồn sinh thái và thích ứng biến đổi khí hậu, phục vụ công tác quy hoạch của các địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình:
- Độ dày đặc của mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thủy văn trên địa bàn miền núi ba tỉnh còn thưa, khiến việc phân tích và nội suy bản đồ sinh khí hậu tại một số khu vực vùng sâu, núi cao phải dựa trên các mô hình ngoại suy toán học.
- Chuỗi số liệu thống kê về kinh tế du lịch và lượng khách tại các địa phương trong giai đoạn 2010 – 2015 chưa thực sự đồng bộ về phương pháp thống kê giữa ba tỉnh, một số chỉ tiêu kinh tế du lịch còn mang tính ước tính của ngành địa phương.
- Việc cho điểm đánh giá độ hấp dẫn cảnh quan và mức độ thuận lợi của một số điểm tài nguyên dù đã thông qua ý kiến chuyên gia nhưng khó tránh khỏi tính chủ quan nhất định.
- Luận án tập trung chủ yếu vào nhóm tài nguyên du lịch tự nhiên; tài nguyên du lịch nhân văn dù phong phú (di tích lịch sử ATK, Tân Trào, văn hóa các dân tộc thiểu số) mới chỉ được tích hợp như yếu tố bổ trợ mà chưa xây dựng thang bậc đánh giá độc lập.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Ứng dụng các công nghệ viễn thám và dữ liệu GIS có độ phân giải cao hơn để chi tiết hóa việc tính toán sức chứa du lịch và sức chịu tải sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt như VQG Ba Bể và KBTTN Na Hang.
- Xây dựng các kịch bản chi tiết về tác động của biến đổi khí hậu và hiện tượng thời tiết cực đoan đối với kết cấu hạ tầng du lịch vùng núi.
- Mở rộng nghiên cứu đánh giá định lượng tổng hợp cả hai nhóm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn trong mô hình không gian kinh tế du lịch liên vùng.
Giá trị tham khảo
Giá trị đối với công tác đào tạo và nghiên cứu:
- Tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Địa lí tự nhiên, Địa lí du lịch, Quản lý tài nguyên và môi trường, Quy hoạch vùng và đô thị.
- Cung cấp khung phương pháp luận và hệ chỉ tiêu đánh giá thích nghi sinh thái du lịch có thể vận dụng cho các vùng lãnh thổ miền núi khác tại Việt Nam.
Giá trị đối với công tác quản lý và thực tiễn:
- Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn trong việc lập quy hoạch phát triển du lịch bền vững.
- Hệ thống bản đồ đánh giá thích nghi tỷ lệ 1:100.000 là tài liệu kỹ thuật hỗ trợ các nhà đầu tư và cơ quan quy hoạch lựa chọn địa điểm, phân kỳ đầu tư cho các dự án nghỉ dưỡng, sinh thái và tham quan khám phá.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lại lựa chọn liên kết ba tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Bắc Kạn làm phạm vi không gian nghiên cứu?
Lãnh thổ ba tỉnh TN – TQ – BK thuộc tiểu vùng du lịch Đông Bắc, có tính đại diện cao cho vùng trung du và miền núi Bắc Bộ khi vừa mang đặc điểm vùng núi cao hiểm trở vừa có tính chất trung du lượn sóng. Ba địa phương này sở hữu tài nguyên tự nhiên đa dạng (VQG Ba Bể, KBTTN Na Hang, hồ Núi Cốc, suối khoáng Mỹ Lâm) và tài nguyên nhân văn giá trị (ATK Định Hóa, Tân Trào). Tuy nhiên, trước đây hoạt động du lịch của ba tỉnh phát triển rời rạc, giao thông kết nối liên tỉnh khó khăn, chịu sức ép môi trường từ đô thị Hà Nội và khai khoáng, đòi hỏi phải có một nghiên cứu liên kết vùng trên quan điểm bền vững.
2. Ba loại hình du lịch nào được luận án lựa chọn làm trọng tâm đánh giá và dựa trên căn cứ khoa học nào?
Ba loại hình được lựa chọn là: Du lịch tham quan (DLTQ), Du lịch nghỉ dưỡng (DLND) và Du lịch sinh thái (DLST). Căn cứ lựa chọn dựa trên sự tương thích giữa nhu cầu sinh thái của các loại hình này với tiềm năng nổi trội của ĐKTN và TNDL của ba tỉnh: địa hình karst và cảnh quan mặt nước hồ phục vụ DLTQ; sinh khí hậu trong lành vùng núi, vi khí hậu hồ và nguồn nước khoáng Mỹ Lâm phục vụ DLND; hệ thống rừng đặc dụng, VQG Ba Bể và KBTTN Na Hang với độ đa dạng sinh học cao phục vụ DLST.
3. Luận án đã sử dụng những tiêu chí khí hậu và sinh khí hậu cụ thể nào để phân cấp đánh giá mức độ thuận lợi?
Tác giả đã sử dụng chuỗi số liệu quan trắc khí hậu nhiều năm để xây dựng hệ chỉ tiêu gồm: nhiệt độ trung bình năm (°C), độ dài mùa lạnh (số tháng có nhiệt độ dưới ngưỡng quy định), lượng mưa trung bình năm (mm) và số ngày mưa trong năm. Các chỉ tiêu này được phân cấp thành các mức độ thuận lợi từ rất thuận lợi đến ít thuận lợi nhằm xác định thời gian thích hợp cho hoạt động ngoài trời của du khách và khả năng phát triển du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh.
4. Nghiên cứu sinh đã tiến hành khảo sát thực địa tại những địa bàn trọng điểm nào trong giai đoạn 2010 – 2016?
Quá trình khảo sát thực địa được tác giả thực hiện qua nhiều đợt từ năm 2010 đến 2016 tại các điểm du lịch đang khai thác và các điểm tiềm năng thuộc cả ba tỉnh: VQG Ba Bể và hồ Ba Bể (Bắc Kạn); hồ Na Hang, thác Bản Ba, suối khoáng Mỹ Lâm và khu di tích Tân Trào (Tuyên Quang); hồ Núi Cốc và di tích lịch sử - cách mạng ATK Định Hóa (Thái Nguyên).
5. Sản phẩm bản đồ học đóng góp mới của luận án có tỷ lệ bao nhiêu và gồm những nội dung gì?
Luận án đã thành lập hệ thống bản đồ ở tỷ lệ 1:100.000, bao gồm: Bản đồ phân loại sinh khí hậu sức khỏe con người; các bản đồ đánh giá thành phần địa hình, sinh vật, cảnh quan; các bản đồ đánh giá thích nghi cho từng loại hình riêng biệt (DLTQ, DLND, DLST); bản đồ đánh giá chung cho cả ba loại hình và bản đồ định hướng không gian phát triển, tuyến điểm du lịch liên tỉnh TN – TQ – BK.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Địa lí của tác giả Phạm Thu Thủy là một công trình nghiên cứu địa lý ứng dụng hoàn chỉnh về đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch cho không gian liên tỉnh Thái Nguyên – Tuyên Quang – Bắc Kạn. Luận án đã kết hợp hệ thống phương pháp luận thích nghi sinh thái với công nghệ GIS ở tỷ lệ 1:100.000 để phân hạng mức độ thuận lợi cho ba loại hình du lịch chủ lực gồm tham quan, nghỉ dưỡng và sinh thái. Những kết quả đánh giá thực nghiệm và hệ thống giải pháp gắn với bảo tồn, ứng phó biến đổi khí hậu cung cấp luận cứ khoa học có giá trị cho công tác quy hoạch và phát triển du lịch bền vững tại tiểu vùng Đông Bắc.