CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm c bản 1. Dải ven biển Dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ biển,…) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trƣng riêng về nguồn phát sinh, về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến hóa,.
Mặc dù đã đƣợc nghiên cứu từ lâu nhƣng cho đến nay, khái niệm về dải ven biển và phạm vi ranh giới của dải ven biển vẫn còn là những vấn đề chƣa thống nhất, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong khoa học tự nhiên và khoa học kinh tế [8]. Theo các tài liệu nƣớc ngoài, tƣơng đƣơng thuật ngữ “dải ven biển” là: - Nga: Vùng duyên hải - Pháp: Vùng ven biển (Littoral hoặc Côte) - Anh: Vùng ven biển (Coastal zone) - Trung Quốc: Vùng diên hải hay Vùng duyên hải. Theo Word Bank thì vùng ven biển (Coastal zone) là nơi chuyển tiếp giữa đất và đại dƣơng, bao gồm môi trƣờng bờ và nƣớc biển. Thành phần của nó có thể bao gồm vùng đồng bằng ven sông, đồng bằng ven biển, vùng đất ngập nƣớc, bãi biển, cồn cát, rạn san hô, rừng ngập mặn, đầm phá, khác tính năng ven biển.[27] Khái niệm vùng bờ: Vùng bờ biển (coastal area), gọi tắt là vùng bờ, là mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tƣơng tác giữa quá trình lục địa (chủ yếu là sông) và biển (chủ yếu là sóng, dòng chảy và thuỷ triều), giữa các hệ thống tự nhiên (natural system) và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con ngƣời), giữa các ngành và những ngƣời sử dụng tài nguyên vùng bờ (hoặc tài nguyên bờ - coastal resources) theo cả cấu trúc dọc (trung ƣơng xuống địa phƣơng) và cấu trúc ngang (các bên liên quan trên cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phƣơng với các thành phần kinh tế khác.
Vì thế, vùng bờ còn đƣợc gọi là đới tƣơng tác và các hệ sinh thái trong vùng này tồn tại và phát triển thông qua các mối liên kết sinh thái chặt chẽ. Thế nhƣng trong thực tiễn quản lý vùng bờ, ngƣời ta (các nhà quản lý và ngƣời dân) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thƣờng rất ít để ý đến mối quan hệ bản chất này. Ngoài ra, trong chƣơng trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Nam Á khi đề cập đến việc phân định ranh giới của dải ven biển, các nhà nghiên cứu của các nƣớc ASEAN đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các vấn đề sinh thái nhân văn với các vấn đề kinh tế - xã hội trong việc phân định dải ven biển. Với cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu cho rằng vùng ven biển là vùng kinh tế - xã hội và nhân văn có liên quan đến quá trình khai thác tài nguyên biển theo quan điểm phát triển bền vững phục vụ cho sự phát triển của kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
Trong các nghiên cứu hỗ trợ cho lĩnh vực môi trƣờng ở Việt Nam, tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN cũng rất quan tâm đến các vùng ven biển và cho rằng: “ Việc xác định thế nào là vùng ven biển rất khó, song có thể nói đó là vùng tính sâu vào nội địa tới điểm ảnh hƣởng của thủy triều lên các con sông, suối và các vùng đất ngập nƣớc, hoặc tính sâu vào nội địa 10km, tùy theo khoảng cách nào lớn hơn”. Cách hiểu này tƣơng đối phù hợp với hƣớng nghiên cứu những vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên ven biển. Song đối với các nghiên cứu về dân cƣ, kinh tế xã hội của lãnh thổ này lại gặp nhiều khó khăn trong việc thu nhập và tính toán các số liệu thống kê.[10] Quan niệm việc phân định và tiêu chí để xác định ranh giới dải ven biển của mỗi nƣớc cũng khác nhau. Ngoài ra, trong từng lĩnh vực khoa học khác nhau cũng có những khái niệm riêng về dải ven biển và cách tiếp cận riêng để xác định phạm vi ranh giới của dải ven biển.
Ở nƣớc ta, khái niệm về dải ven biển đã đƣợc đề cập từ lâu dƣới nhiều góc độ khác nhau và trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Đặc biệt, từ giữa những năm 70 của thế kỷ trƣớc đến nay, trong những công trình khoa học liên quan đến biển và ven biển nƣớc ta, các nhà khoa học Việt Nam đã đƣa ra nhiều khái niệm khác nhau về dải ven biển và các phƣơng án khác nhau để xác định ranh giới của dải ven biển khác. Sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Trong các báo cáo khoa học của Ủy ban Quốc gia về biển của Việt Nam (IOC), GS.TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các chƣơng trình điều tra nghiên cứu biển của Việt Nam từ năm 1997 - 2000 đã đƣa ra khái niệm vùng ven biển nhƣ sau: “Vùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ven biển Việt Nam chạy dài trên 3200km bờ biển của đất nƣớc, bao gồm 24/50 tỉnh và thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nƣớc,…” Theo cách hiểu nhƣ trên thì vùng ven biển nƣớc ta đƣợc xác định bởi ranh giới hành chính các huyện có bờ biển. Cách xác định này giúp cho việc thu thập tài liệu, số liệu phục vụ các nghiên cứu kinh tế - xã hội và dân cƣ rất thuận lợi.
Song cũng có những hạn chế, vì những hiện tƣợng và đối tƣợng nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên lại không bị hạn chế bởi ranh giới hành chính. Vì vậy, một số chuyên gia khác đã sử dụng giới hạn nhiễm mặn của đất và nƣớc làm ranh giới của vùng ven biển.[10] Trong đề tài “Đánh giá kinh tế tổng hợp tài nguyên biển Việt Nam phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2005”, mã số 48B.02, do Viện Kế hoạch dài hạn và phân bố LLSX thực hiện (1986 - 1990), các tác giả đã xác định Vùng ven biển bao gồm dải đất liền ven biển tạm giới hạn bằng ranh giới hành chính của các huyện ven biển (từ Bắc xuống Nam có 105 huyện ven biển thuộc 24 tỉnh thành và đặc khu trong đó có 3 thành phố thị xã và 5 huyện đảo, với diện tích 5,9 triệu ha, bằng 18,1% diện tích lãnh thổ cả nƣớc) và phần trên biển gồm toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam (trong đó tập trung chủ yếu vào khu vực ven bờ, từ độ sâu 50m trở vào). Trong đề tài KT.07 “Nghiên cứu xây dựng phƣơng án quản lý tổng hợp vùng bờ biển Việt Nam, góp phần đảm bảo an toàn môi trƣờng và phát triển bền vững” thuộc Chƣơng trình điều tra nghiên cứu biển giai đoạn 1996 - 2000 do Phân viện Hải dƣơng học tại Hải phòng thực hiện (1996 - 2000), các tác giả đã đƣa ra một khái niệm tổng quát về đới bờ biển (hay dải ven biển) nhƣ sau: đới bờ biển là một khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, một đới rộng và nhạy cảm và là một hệ thống tự nhiên đặc trƣng bởi các quá trình tƣơng tác; một khu vực có tiềm năng tài nguyên phục vụ phát triển đa ngành và là nơi chịu tác động mạnh của các hoạt động của con ngƣời. Về phạm vi ranh giới của đới biển, các tác giả cho rằng có nhiều cách phân định khác nhau phụ thuộc vào các quan niệm và mục đích của các hoạt động quản lý.
Trên quy mô toàn cầu, ngƣời ta thƣờng xác định giới hạn về phía lục địa của đới bờ biển là các đồng bằng ven biển, ở nơi khác là giới hạn của thủy triều; giới hạn về phía biển là thềm lục địa. Còn ở quy mô một quốc gia thì đới bờ biển có không gian hẹp hơn. Về phía lục địa là đƣờng nối các điểm còn chịu tác động của biển nhƣ: ranh giới xâm nhập mặn, tác động của sóng bão, giới hạn thủy triều,… Ở nơi khác thì lấy điểm cách đƣờng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bờ 10km, là phạm vi mà ở đó các hoạt động của con ngƣời có thể tác động trực tiếp đến môi trƣờng cửa sông ven biển. Còn về phía biển là đƣờng thẳng sâu bằng một phần hai bƣớc sóng (thƣờng nằm giữa 30 - 50m nƣớc).
Tại khu vực này, sóng biển có thể tác động trực tiếp làm biến cải địa hình đáy. Tóm lại, với cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đƣa ra các khái niệm khác nhau về dải ven biển và phƣơng pháp xác định ranh giới dải ven biển. Trong đó, phần lớn việc phân định ranh giới của dải ven biển dựa trên căn cứ về tự nhiên. Riêng một số nghiên cứu về kinh tế - xã hội lại thiên về việc phân định theo ranh giới hành chính.
Việc phân định ranh giới dải ven biển nhằm mục đích xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho một khu vực lãnh thổ đặc thù này cần đƣợc xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa các điều kiện tự nhiên, sinh thái với các điều kiện xã hội nhân văn và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của khu vực. Phát triển bền vững 1. Khái niệm Khái niệm “Phát triển bền vững” ra đời rất muộn, lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1987 trong báo “Tƣơng lai của chúng ta” của ủy ban Môi Trƣờng và phát triển của ngân hàng thế giới (WB). Do đó, cho đến nay chƣa có một định nghĩa nào thống nhất và hoàn chỉnh.
Một số khái niệm Khoa học Môi trƣờng về “Phát triển bền vững”: - Tại hội nghị thƣợng đỉnh về Phát triển bền vững (2002) tổ chức tại Johannesbug đã xác định: “Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển bao gồm: tăng trƣởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và môi trƣờng (Hình 1).[15] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hình 1 : S ồ giải thích khái niệm Phát triển bền vững Hiện nay, khái niệm về “Phát triển bền vững” của WB đƣợc sử dụng rộng rãi hơn cả: “Phát triển bền vững là một quá trình phát triển đáp ứng đƣợc những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hƣởng đến nhu cầu của các thế hệ sau”. Cơ sở của Phát triển bền vững Cơ sở của phát triển bền vững là giảm hết mức việc làm cạn kiệt tài nguyên môi trƣờng: đất, nƣớc ngọt, các thủy vực, khoáng sản,… Đảm bảo sử dụng lâu dài các dạng tài nguyên không tái tạo đƣợc bằng cách tái chế, tránh lãng phí, sử dụng ít hơn hoặc thay thế chúng.