CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG - LÂM NGHIỆP HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN 1. Thể tổng hợp địa lí tự nhiên Khái niệm tổng thể Địa lí tự nhiên khá phức tạp, vì bản thân tự nhiên là một hệ thống hoàn chỉnh, do vậy, các khái niệm cũng phải phản ánh đầy đủ bản chất của một tổng hợp thể tự nhiên. Xôrana và những người khác “Mỗi thể tổng hợp địa lí tự nhiên được phân biệt với nhau về đặc tính và mối quan hệ của các thành phần cấu tạo nên chúng, những chế độ tự nhiên cũng như về hướng, về tốc độ và nhịp điệu của sự phát triển” (1964) [7] Có nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên để hiểu về thể tổng hợp địa lí tự nhiên, các tác giả đều có sự thống nhất chung: đó là thể tổng hợp địa lí tự nhiên là những bộ phận của lớp vỏ địa lí.
Chúng có mối liên hệ với lớp vỏ, đồng thời chúng có hệ thống phụ hay hệ thống ở hàng thấp hơn. Nói cách khác nó là một hệ thống hoàn chỉnh: “Những bộ phận lãnh thổ, trên đó có các thành phần cấu tạo và tính chất tác động tương hỗ của chúng tồn tại một cách tương đối ổn định thì được gọi là những tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên” (1970) Theo định nghĩa của Prokev: “Địa tổng thể là những đơn vị cá thể trong đó mỗi thể tổng hợp của các thành phần cấu tạo tự nhiên, được đặc trưng bằng một sự thống nhất nhất định” (1967) [7] Theo tác giả N.Mikhailôp: Tổng hợp thể địa lí tự nhiên bao gồm các thành phần cụ thể và giữa các thể tổng hợp tự nhiên lại được phân biệt với nhau bởi những đường ranh giới địa lí. Theo Artman: “Thể tổng hợp địa lí tự nhiên là một bộ phận của môi trường địa lí, là một lãnh thổ đồng nhất về mặt phát sinh trong những nét chung, trong 9 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ đó ảnh hưởng của các quá trình địa lí tự nhiên vốn có của nó, mà hình thành cấu trúc cá thể, nhưng hoàn toàn có quy luật của các thành phần cấu tạo nên thể tổng hợp. Cấu tạo địa chất địa hình, nước trên mặt, nước ngầm thổ nhưỡng và các quần thể sinh vật.
Mỗi một thể tổng hợp trong số đó được phân biệt với các thể tổng hợp bên cạnh bởi những đường ranh giới địa lí. Cảnh quan Với quan niệm chung cảnh quan là một tổng thể tự nhiên được hình thành trong mối quan hệ và tác động tương hỗ chặt chẽ của các yếu tố thành phần tự nhiên và các tác động nhân tác. Có thể thấy, về cơ bản tiếp cận địa lý tổng hợp hay tiếp cận cảnh quan với đối tượng nghiên cứu là các tổng hợp thể tự nhiên hay là các đơn vị cảnh quan về bản chất mang ý nghĩa tương đồng. Điều này thể hiện rất rõ trong nội dung, phương pháp tiếp cận nghiên cứu cũng như trong lý luận xây dựng hệ thống phân loại chúng cho các địa bàn nghiên cứu cụ thể.
Vì vậy trong phần nội dung nghiên cứu tổng quan sẽ đề cập lịch sử và các thành tựu nghiên cứu cảnh quan trên thế giới và ở Việt Nam. Khái niệm CQ được sử dụng lần đầu tiên vào đầu thế kỷ XIX, có nghĩa là phong cảnh (tiếng Đức - Landschaft). Hiện nay, ở Nga và các nước khác thuộc Liên Xô trước đây, trong khoa học địa lí tồn tại ba quan niệm về cảnh quan tùy theo ý và nội dung người ta muốn diễn đạt: cảnh quan là một khái niệm chung (F.), đồng nghĩa với tổng thể địa lí thuộc các đơn vị khác nhau: là khái niệm loại hình (B.); là khái niệm cá thể (N. Ixatrenko, Vũ Tự Lập).
Dù xem cảnh quan theo khía cạnh nào đi chăng nữa thì cảnh quan vẫn được xem là một tổng thể tự nhiên, còn sự khác biệt của các quan niệm trên ở chỗ coi cảnh quan là đơn vị thuộc cấp phân vị nào, cảnh quan được xác định và thể hiện trên bản đồ theo cách thức nào, theo cách quy nạp hay diễn giải (Nguyễn Thành Long và nnk, 1993).Kalexnik (1959): “cảnh quan địa lí là một bộ phận nhỏ của bề mặt Trái Đất, khác biệt về chất với các bộ phận khác, được bao bọc bởi những ranh giới tự nhiên và bản thân là một sự kết hợp các hiện tượng và đối tượng tác động lẫn nhau một cách có quy luật được hiểu một cách điển hình trên một khoảng 10 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ không gian rộng và có quan hệ mọi mặt với lớp vỏ địa lí. Trong nghiên cứu địa lí phục vụ thực tiễn sản xuất, cảnh quan vẫn được xem xét ở cả 3 khía cạnh, như đơn vị địa tổng thể (theo khái niệm chung), đơn vị phân kiểu (theo khái niệm loại hình), đơn vị cá thể (theo khái niệm cá thể) (Shishenko P. Về bản chất, cảnh quan là một tổng thể tự nhiên phức tạp, vừa có tính đồng nhất, vừa có tính bất đồng nhất. Tính đồng nhất của cảnh quan được hiểu là một lãnh thổ mà trong phạm vi của nó, các thành phần và tính chất của mối quan hệ giữa các thành phần coi như không đổi, nghĩa là đồng nhất.
Tính bất đồng nhất được biểu thị ở 2 mặt: (1) cảnh quan bao gồm nhiều thành phần khác nhau về bản chất (địa hình, khí hậu, thủy văn, đất, thực vật) tạo nên. (2) mỗi thành phần trong cảnh quan tồn tại ở nhiều dạng khác nhau. Ví dụ, địa hình âm và dương, và ngay trên một dạng địa hình dương (quả đồi) cũng có sự khác nhau giữa đỉnh và sườn. Nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ giá trị vật chất sẵn có trong tự nhiên: nguyên liệu, vật liệu do tự nhiên tạo ra mà con người có thể sử dụng trong sản xuất và đời sống; là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người.
Tất cả những dạng vật chất chưa được con người biết đến, khai thác, sử dụng thì chưa được gọi là tài nguyên thiên nhiên mà chỉ là điều kiện tự nhiên hay môi trường tự nhiên, vì thế tài nguyên thiên nhiên mang tính chất xã hội [16]. Nguồn tài nguyên thiên nhiên luôn được mở rộng đối với sự phát triển của xã hội. Tài nguyên thiên nhiên có thể thu được từ môi trường tự nhiên và được sử dụng trực tiếp như: Không khí, các loài động vật, thực vật tự nhiên. cũng có thể phải qua các quá trình khai thác, chế biến mới có thể sử dụng được như: Khoáng sản, đất đai, động, thực vật, năng lượng mặt trời, nhiệt… tài nguyên thiên nhiên có thể phục hồi được như sinh vật, độ phì đất,.chúng có thể duy trì hoặc bổ sung nếu được sử dụng một cách hợp lý; có thể không phục hồi lại được như khoáng sản, dầu mỏ, khí đốt…tức là bị mai một và mất đi mà không truyền lại được cho thế hệ mai sau.
Một số tài nguyên có thể coi là vô tận như 11 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ năng lượng mặt trời, sức gió, địa nhiệt… nhưng đa số có nhiều nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt. Con người đã khai thác quá mức và lạm dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên làm mất khả năng phục hồi vốn có của nó như: Tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật, nguồn nước ngầm. Diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do bị thoái hoá, xói mòn, rửa trôi, bạc màu, gley, mặn hoá và nhiều nơi bị hoang mạc hoá. Nhiều loài thực vật, động vật bị tuyệt chủng, suy giảm đa dạng sinh học ngày càng tăng, diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp.
Nhiều nơi suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên đã đến mức báo động. Đối tượng nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu của địa lí tự nhiên Địa lí tự nhiên là một trong hai nhánh quan trọng của khoa học địa lí. Đối tượng nghiên cứu là lớp vỏ địa lí Trái Đất, thành phần, cấu trúc, các quy luật phát triển và sự phân dị lãnh thổ.
Địa lí tự nhiên chỉ nghiên cứu phần bề mặt Trái Đất trong phạm vi từ tầng trên của thạch quyển đến phần dưới của khí quyển. Phạm vi đó được gọi là lớp vỏ địa lí - bộ phận phức tạp nhất của Trái Đất có sự tác động của con người. Các quyển cấu tạo nên lớp vỏ địa lí là đối tượng nghiên cứu của các khoa học chuyên ngành của địa lí tự nhiên ví dụ như Địa mạo học, Khí hậu học, Thủy văn học, Thổ nhưỡng học, Sinh vật học. Đối tượng nghiên cứu của địa lí tự nhiên tổng hợp Các hợp phần của lớp vỏ địa lí hay các hợp phần của lớp vỏ cảnh quan dưới góc độ của cảnh quan học thay đổi trong không gian từ nơi này đến nơi khác trongmối quan hệ phụ thuộc, tương tác lẫn nhau.
Chính sự phụ thuộc và tác động qua lại này đã tạo nên các tổng hợp thể vật chất phức tạp. Nghiên cứu tổng hợp các quyển đó trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau trong lớp vỏ địa lí trên những lãnh thổ khác nhau là nhiệm vụ của địa lí tự nhiên tổng hợp. Nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp là nghiên cứu các thể tổng hợp lãnh thổ địa lí hay thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, hay tổng hợp thể tự nhiên khác nhau trên các phần lãnh thổ khác nhau (các địa tổng thể). 12 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ Theo Ixatrenko, 1991: "Tổng hợp thể tự nhiên không phải là một tập hợp đơn giản,mà làmột phức hợp các yếu tố tạo nênmột thực thể vật chất phức tạp có tính toàn vẹn và thống nhất.
Nó được coi làmột hệ thống không gian và thời gian của các hợp phần địa lí có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân bố và phát triển như một thể thống nhất ". Đối tượng nghiên cứu của cảnh quan học Trong các địa tổng thể thì các tổng thể lãnh thổ tự nhiên nhỏ, có quan hệ mật thiết với sự tồn tại và phát triển của con người, con người có thể quan sát được, nhận thức được, sử dụng được gọi là cảnh quan. Cảnh quan là phạm vi không gian lãnh thổ của bề mặt Trái Đất nơi mà con người và các thể sinh vật sinh sống tác động qua lại và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nó là bậc cơ sở cho phân vùng địa lí tự nhiên vì các đơn vị lớn hơn chỉ là sự kết hợp về lãnh thổ của cảnh quan (ví dụ miền Bắc Việt Nam gồm 577 cá thể cảnh quan).