Đặt vấn đề Đất là tài sản quý giá của mỗi quốc gia, vừa là tư liệu vừa là đối tượng sản xuất và cũng là nơi xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế, dân sinh và an ninh quốc phòng. Quá trình khai thác sử dụng đất luôn gắn liền với quá trình phát triển của kinh tế. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất càng cao, trong khi đất đai lại có hạn và ngày càng trở nên quý giá. Từ những năm 1970, nhiều quốc gia đã phát triển các hệ thống đánh giá đất đai và các nghiên cứu thấy rằng cần có một cuộc thảo luận quốc tế để chuẩn hóa vấn đề này nên đã có hai ủy ban được thành lập và dự thảo văn kiện tổng quát đầu tiên ra đời (FAO, 1972 dự thảo này đã được Brinkman và Smyth sửa chữa, bổ sung và cho ra đời bản hướng dẫn về “ Đánh giá đất đai” đầu tiên năm (1973) năm 1975 các chuyên gia hàng đầu về đánh giá đất đai của FAO đã biên soạn lại toàn bộ nội dung và cho ra đời tài liệu “Nội dung cho việc đánh giá đất đai” (1976).
Hiện nay, phương pháp đánh giá đất đai của FAO đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới và cho ra những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Huyện Tân Phú Đông là huyện mới được thành lập năm 2008 và hình thành trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính của hai huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây theo nghị định số 09/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng 01 năm 2008. Huyện Tân Phú Đông bao gồm 6 xã: Tân Thới, Tân Phú, Tân Thạnh, Phú Thạnh, Phú Đông và Phú Tân. Tổng diện tích tự nhiên năm 2013 là 22.211,31 ha, dân số là 43,571 người, mật độ dân số 196 người/km2 (năm 2013).
Là một huyện cù lao ven biển, thế mạnh của Tân Phú Đông là Nông-Ngư nghiệp. Cây trồng chủ yếu có cây sả, rau màu; cây công nghiệp như: dừa, ca cao, cây ăn trái mà chủ lực là mãng cầu xiêm. Vật nuôi chính là: gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy đặc sản hướng đến xuất khẩu. Hệ sinh thái rừng ngập mặn và cảnh quan cửa sông ven biển.000 ha vườn dừa cho sản lượng trên 2 vạn tấn quả/năm, trên 1.000 ha vườn trồng cây ăn quả đặc sản cho sản lượng gần 1,2 vạn tấn/ năm.
Ngoài ra, hình thành vùng nuôi trồng thủy sản gần 3.400 ha với sản lượng trên 8.000 tấn tôm, cua, cá, nghêu, sòvv là những nguyên liệu quí đáp ứng công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu. Việc nuôi trồng thuỷ sản những năm qua đã mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân. Tuy nhiên, việc khai thác đất đai sản xuất nông nghiệp đã có những tác động đến môi trường tự nhiên, đặc biệt là môi trường đất và nước, việc phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường sẽ cho chúng ta một cái nhìn tổng thể hơn về giá trị kinh tế, xã hội, môi trường địa bàn nghiên cứu. Chính vì vậy việc “đánh giá thích nghi đất đai phục vụ phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững huyện Tân Phú Đông tỉnh Tiền Giang” là điều cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Phát triển nông nghiệp bền vững thông qua việc đánh giá mực độ thích nghi của đất. Các mục tiêu cụ thể: - Phân tích các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thích hợp cho sự phát triển của nông, lâm, ngư nghiệp dựa trên các đặc tính sinh lý, sinh thái của ngành để chỉ ra mức độ thích hợp cho phát triển nông nghiệp. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và lựa chọn các loại hình sử dụng đất dùng cho đánh giá đất. - Đánh giá đất, tìm ra các loại đất phù hợp phát triển nông nghiệp bền vững.
- Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. + Các loại đất, đặc điểm, tính chất trong mối quan hệ với các điều kiện tự nhiên khác. + Loại sử dụng đất và các hệ thống sử dụng đất chủ yếu, ở các khía cạnh là (i) yêu cầu về điều kiện tự nhiên, (ii) đặc điểm kinh tế - kỹ thuật (kỹ thuật canh tác, giống, thời vụ, đầu tư, chi phí, lợi nhuận, nhu cầu lao động,vv), và (iii) các tác động đến môi trường.
- Không gian: Các kết quả nghiên cứu giới hạn ở quy mô và lĩnh vực sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp-lâm-ngư nghiệp, tập trung vào các điều kiện tự nhiên, môi trường của vấn đề sử dụng đất. Các đề xuất sử dụng đất của đề tài chú trọng xem xét về khía cạnh tiềm năng của tài nguyên môi trường đất. - Thời gian: Khảo sát và viết luận văn từ năm 2013-2015, các số liệu khảo sát, thu thập sử dụng tính toán có ý nghĩa tại thời điểm nghiên cứu thực hiện đề tài. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Đánh gia thích nghi đất đai là một trong những phương pháp khoa học được ứng dụng khá phổ biến hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam trong quy hoạch sử dụng đất và sản xuất nông nghiệp. Đánh giá thích nghi đất đai dựa trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp của địa phương, từ đó đưa ra cơ sở khoa học, xác định loại hình sử dụng đất phù hợp và đáp ứng yêu cầu của địa phương. Huyện Tân Phú Đông là một huyện ven biển thuộc ĐBSCL, nơi đang chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, tài nguyên đất đang có diễn biến phức tạp. Vì vậy một nghiên cứu đánh giá đất theo phương pháp (FAO,1976) phục vụ cho phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững là cần thiết.
Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho địa phương trong công tác quản lý và sử dụng tài nguyên đất. Xuất xứ của đề tài. Đề tài là một mãng nhỏ trong đề tài khoa học của Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp thực hiện nghiên cứu “Đánh giá thực trạng môi trường đất và phân vùng thích nghi nông lâm nghiệp huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang”. TỔNG QUAN TÀI LIỆU- CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I.
Tình hình nghiên cứu đánh giá thích nghi đất đai trên thế giới. Trên thế giới, công tác đánh giá thích nghi đất đai là một trong những mảng được quan tâm nhiều nhất trong lĩnh vực khoa học đất, nhất là ở các nước nông nghiệp tiên tiến. Các phương pháp đánh giá thích nghi đã dần phát triển thành lĩnh vực nghiên cứu liên ngành mang tính hệ thống (tự nhiên – kinh tế – xã hội) nhằm kết hợp các kiến thức khoa học về tài nguyên đất và sử dụng đất. 3 phương pháp đánh giá thích nghi đất đai chính thường được sử dụng là: - Đánh giá đất theo định tính: Chủ yếu dựa vào mô tả và xét đoán.
- Đánh giá đất theo định lượng dựa vào các kết quả tính toán thống kê. - Đánh giá đất theo định lượng dựa trên mô hình, mô phỏng định hướng. Một số các khuynh hướng đánh giá thích nghi đất đai trên thế giới - Ở Liên Xô cũ, có hai hướng đánh giá thích nghi: Đánh giá chung và đánh giá riêng cho các loại cây trồng. Cả hai hướng đánh giá này đều sử dụng chung đơn vị đánh giá là các loại đất (đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ cắt, đồng cỏ chăn thả, đất có nước tưới, đất được tiêu úng); chỉ tiêu đánh giá là năng suất, giá thành sản phẩm (rúp/ha), mức hoàn vốn, đại tô cấp sai (phần có lãi suất thuần túy).
- Ở Hoa Kì, ứng dụng rộng rãi hai phương pháp: + Phương pháp tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm làm tiêu chuẩn và chú ý vào phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng chính (lúa mì). + Phương pháp yếu tố: So sánh các thống kê về yếu tố tự nhiên và kinh tế – xã hội của một loại đất, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm làm mốc so sánh với các loại đất khác. - Ở các nước châu Âu, phổ biến hai hướng nghiên cứu: 4 + Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên: Xác định tiềm năng sản xuất của đất đai (phân hạng định tính). + Nghiên cứu các yếu tố kinh tế – xã hội: Xác định sức sản xuất thực tế của đất đai (phân hạng định lượng).
Cả hai hướng nghiên cứu trên đều áp dụng phương pháp so sánh bằng tính điểm hoặc phần trăm để tính toán khu vực thích nghi. - Tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc (FAO) cũng tiến hành xây dựng “Đề cương đánh giá đất đai”(1976). Tài liệu này được nhiều quốc gia coi như tiêu chuẩn để áp dụng trong đánh giá đất đai và cũng đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Từ sau 1983, đề cương này được chỉnh sửa, bồ sung với hành loạt các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai chi tiết cho các vùng sản xuất khác nhau: + Đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước mưa (Land evaluation for rained agriculture, 1983).
+ Đánh giá đất cho vùng đất rừng (Land evaluation for foresty, 1984). + Đánh giá đất cho nông nghiệp được tưới (Land evaluation for irrigated agriculture, 1985). + Đánh giá đất cho đồng cỏ chăn thả (Land evaluation for extensive gazing, 1989). + Đánh giá và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (Land evaluation anh farming system analysis for land use planning, 1992).
+ Hướng dẫn đánh giá đất đai phục vụ cho quản lý bền vững (An international framework for land evaluating sustainable managerment, 1993). Việc đánh giá thực trạng môi trường đất có thể ở nhiều mức chi tiết khác nhau, nhưng thiết yếu cần điều tra khảo sát xác định tài nguyên đất về số lượng và chất lượng như: quy mô diện tích các loại đất và phân bố của chúng trên địa bàn nghiên cứu, đồng thời xem xét các vấn đề suy thoái ô nhiễm đất. Đất đai bị suy thoái, 5 giảm chất lượng do các hoạt động của con người đã và đang là một vấn đề lớn trên toàn cầu trong thế kỷ 20 và tiếp tục được quan tâm trong Chương trình nghị sự Quốc tế trong thế kỷ 21 (Agenda 21) do những tác động về an ninh lương thực thế giới và chất lượng của môi trường. Về đánh giá đất đai và phân vùng sử dụng đất Thuật ngữ đánh giá đất đai được sử dụng từ năm 1950 tại Hội nghị của các nhà khoa học đất thế giới ở Amsterdam.
Song cho đến khoảng những năm 1970 thì khái niệm phân loại đất đai và giải thích nghiên cứu đất mới được thay thế bằng thuật ngữ đánh giá đất đai.