CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU DIEU KIỆN DIA LY VÀ CANH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HUONG KHÔNG GIAN PHÁT TRIEN KINH TE VÀ BẢO VỆ MOI TRƯỜNG KHU VỰC VEN BIEN VÀ BIEN DAO VEN BO 1. TONG QUAN CAC CONG TRINH NGHIEN CUU CO LIEN QUAN 1. Các nghiên cứu, đánh giá điều kiện dia lý theo tiếp cận cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường khu vực ven biến và biển đảo ven bờ Nghiên cứu tông hợp điều kiện địa lý cho mục đích phát triển kinh tế và BVMT là nhu cầu tất yếu của phát triển xã hội.
Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn khác nhau và mỗi quốc gia khác nhau lại có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều có cùng nhiệm vụ chung là nghiên cứu các hợp phần tự nhiên và mối quan hệ giữa chúng một cách tổng hợp, đồng bộ nhằm sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bảo vệ được các điều kiện môi trường sinh thái - lãnh thô. Các nghiên cứu về diéu kiện địa lý Hướng nghiên cứu địa lý dựa trên kết quả đánh giá tong hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên phục vụ phát triển đã được thực hiện trong nhiều công trình nghiên cứu. a) Đánh giá diéu kiện địa lý cho sử dụng hop lý tài nguyên và BVMT Những nghiên cứu trên thế giới về sử dụng hợp lý tài nguyên trên quan điểm địa lý tổng hợp có giá trị cao về lý luận và khả năng ứng dụng thực tiễn. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của Dokuchaev, người đầu tiên thực hiện nguyên tắc tổng hợp trong nghiên cứu các điều kiện tự nhiên của các địa phương cụ thể.
Sau Dokuchaev, các nhà Địa lý Xô Viết giai đoạn giữa thế kỷ XX như Kalexnik, Preobrajenxki, Ixatsenko,. tiếp tục hoàn thiện về lý luận và thực tiễn nghiên cứu tong hợp phục vụ mục đích phát triển nền kinh tế quốc dân. Trong thời gian này, cũng có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên trên quan điểm tổng hợp của các nhà khoa học ở các quốc gia khác như: Ghebecxơn (Anh); Passarge (Đức); Bertran (Pháp), K6ndracki (Ba Lan); Khactoxo (Mỹ),. Tại Việt Nam, các nhà Dia lý đã kế thừa các nghiên cứu lí luận trên thé giới để vận dụng vào thực tiễn đánh giá điều kiện địa lý phục vụ mục đích phát triển bền vững lãnh thổ nước ta.
Có thé kế đến các công trình nghiên cứu về: lý luận và phương pháp đánh giá tổng hợp tự nhiên vùng Đông Nam Bộ (Phạm Hoàng Hải va cs, 1998); đánh giá tông hợp điều kiện địa lý dai ven biển Việt Nam cho phát triển KTXH va BVMT (Đỗ Hoài Nam, 2005), cho sản xuất nông - lâm nghiệp (Nguyễn Trọng Tiến và cs, 1990), cho phát triển du lịch (Truong Quang Hải, 2020); đánh giá tổng hợp dé liên kết không gian phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ (Đặng Văn Bào, 2015), hay phục vụ quy hoạch khu dân cư vùng biên giới Việt - Lào (Nguyễn Đình Ky và cs, 2015). b) Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển và hệ thống đảo ven bờ Việt Nam Đây là một hướng nghiên cứu lớn cả về không gian lãnh thổ lẫn nội dung nghiên cứu. Các nghiên cứu địa lý mang tính tổng hợp về biển, đảo đã được thực hiện từ những năm 1960, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc điều tra tổng hợp. Những công trình đánh giá cho mục dich ứng dụng cụ thé mới chỉ bat đầu từ những năm 1990 trở lại đây.
Nhìn chung, các nghiên cứu đã thực hiện điều tra, đánh giá toàn bộ hệ thống đảo ven bờ Việt Nam cho các mục đích an ninh quốc phòng, di dân kinh tế mới, du lịch, dịch vụ biển. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển kinh tế - sinh thái hải đảo cũng đã được đặt ra và bước đầu xây dựng được mô hình kinh tế - sinh thái trên các dao theo hướng phát triển du lịch [79]. Bên cạnh đó, van đề nghiên cứu ứng dụng theo hướng địa lý tổng hợp và áp dụng phương pháp đánh giá tổng hợp cho các mục tiêu phát triển đối với một huyện đảo cũng đã được tiễn hành [31, 35, 43]. Các nghiên cứu về cảnh quan Nghiên cứu CQ khu vực ven biên và hải đảo được gắn với nghiên cứu CQ trên dai đất liền tiếp giáp với biển ven bờ, những kinh nghiệm nghiên cứu CQ trên dat liền cả lý luận và thực tiễn là cơ sở cho nghiên cứu CQ biên đảo ven bờ.
a) Khái niệm và phân loại cảnh quan dải ven biển (trên đất lién) Khái niệm CQ: Khái niệm CQ được sử dụng lần đầu tiên vào đầu thé kỷ XIX với nghĩa là phong cảnh, theo quan niệm của các học giả người Pháp, Đức. Hiện nay, quan điểm này vẫn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong quy hoạch và kiến trúc CQ, hội họa, du lich va bảo tồn. Dưới góc độ khoa học, CQ trên đất liền nói chung, dải ven biển nói riêng được hiểu như khái niệm địa hệ thống, bao gồm các hợp phần tự nhiên (đá mẹ, địa hình, khí hậu, thủy văn, thô nhưỡng, sinh vật) và hợp phần nhân sinh (chủ yếu là các hoạt động liên quan đến khai thác, sử dụng, bảo tồn tài nguyên) tương tác lẫn nhau bởi dòng vật chất và năng lượng. Quan niệm CQ này được coi là một khái niệm chung (Armand, Milkov, Prokaey,.), vi thế nó vừa được xem là một đơn vi cá thé, tương đương với cấp vùng dia lý tự nhiên (Ixatsenko) [44] hay vùng CQ (Antrop) [101], vừa được xem là đơn vi loại hình, tương đồng VỚI Các đơn vị kiểu loại CQ (Berg, Gvozdetsky, Polynov, Nikolaev.
Ở Liên Xô cũ va Nga, các nhà địa lý đều chú trọng đến cả các yếu tố tự nhiên, yếu tố nhân sinh và tương tac gitra chúng, kết quả đã xuất hiện một lĩnh vực mới trong CQ học, gọi la CQ học nhân sinh (Minkov, 1974). Tai Bac Mỹ, quan điểm CQ chịu ảnh hưởng của trường phái Berkeley lấy sinh vật làm trung tâm với các đại diện là Carl Sauer [123], Forman và Gordon [110]. Không giống như trường phái Nga, con người và các hoạt động của họ là mối quan tâm chính trong nghiên cứu về CQ tại Mỹ. Tại châu Âu, các khái niệm CQ chú trọng đến các hợp phần CQ nhưng quan tâm nhiều hơn đến các yếu tố văn hóa [105].
Tại Việt Nam, ngoài coi CQ như phong cảnh, các nhà khoa học còn xem xét CQ như một khái niệm chung, cá thé (phân vùng, không lặp lại trong không gian) và kiểu loại (phân kiểu, có tính lặp lại trong không gian) [36]. Cho dù dưới góc độ nào, CQ cũng được xem như một đơn vi địa lý tổng hợp/ địa tong thé, hinh thanh tir su tương tac của các nhân tố tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật) và nhân văn/ văn hóa (sử dụng đất, quần cư, bảo tồn.) theo thời gian. Các nhà CQ Việt Nam coi trọng mối quan hệ tổng hợp, tính cấu trúc thứ bậc của CQ nhưng còn chưa có phương pháp đánh giá đầy đủ tính mỹ học của CQ. Phân loại CQ: Hiện nay tồn tại nhiều hệ thống phân loại CQ, nhưng mỗi hệ thống có những ưu thế cũng như hạn chế riêng, chỉ có thể áp dụng cho một hoặc một số mục dich cụ thé.
Các nhà Địa lý Liên Xô (cit) phân loại CQ dựa vào tính dia đới và phi địa đới, có thé xếp theo hai nhóm chính: hệ/ phụ hệ - kiéu/ phụ kiểu - lớp/ phụ lớp - (hạng) - loại CQ, xuất phát từ quan niệm cá thé về CQ (đại diện là Ixatsenko); hệ/ phụ hệ - lớp/ phụ lớp - kiéu/ phụ kiểu - (hạng) - loại CQ, xuất phát từ quan niệm kiểu loại về CQ (đại diện Nhicolaev). Mỗi một bậc phan vi được xác định bởi một hoặc hơn một tiêu chí. Kiểu trong hệ thống thứ nhất được xác định theo tiêu chí nền nhiệt âm mang tính địa đới với đặc tính về nhịp điệu mùa. Trong hệ thống phân loại thứ hai, kiêu CQ được xác định chủ yếu dựa vào chỉ số sinh khí hậu (nền nhiệt âm phụ thuộc vào địa hình và thảm thực vật).
Cấp hạng thường được sử dụng ở những lãnh thổ miền núi có địa hình phức tạp, ở nhiều trường hợp các nhà nghiên cứu chuyển thăng từ cấp kiểu xuống cấp loại CQ, vì tiêu chí xác định cấp này thuần thúy theo dạng địa hình theo nguồn gốc. Tại Châu Âu, phân loại CQ chủ yếu vẫn dựa vào mục đích, chức năng sử dụng [119]. Tại Mỹ, CQ ven biển được phân loại theo phương pháp tiếp cận hệ thống dé xem xét CQ trong việc phát trién một cách toàn diện [109], hoặc dựa trên sự tác động tổng hợp của lịch sử bờ biển, chiến lược phát triển, đặc điểm địa mạo và vấn đề sử dụng bờ biển [125],. Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu phân loại và phân vùng CQ ven biển thường gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và quản lý môi trường [38, 55, 59].
Hệ thống phân loại, phân vùng chủ yếu dựa trên việc kế thừa và vận dụng quan điểm của nước Đông Âu và Liên Xô (cũ). Hiện nay, ở Việt Nam có 2 hệ thống phân loại CQ được sử dụng chủ yếu: (¡). Hệ thống phân loại CQ của Vũ Tự Lập (1976) gồm: hệ - lớp - phụ lớp - nhóm - kiểu - chủng - loại - thứ CQ [49]; (ii). Hệ thống phân loại CQ của Phạm Hoàng Hải và cs (1997) dựa theo bảng phân loại của Nhicolaev và có sự điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, gồm 7 cấp: hệ - phụ hệ - lớp - phụ lớp - nhóm - kiêu - phụ kiểu - loại CQ [34].
Ở một số trường hợp hệ thống phân loại gồm 8 bậc bao gồm cả hang CQ (Nguyễn Thanh Long và cs, 1982). b) Khái niệm và phân loại CQ biển Nghiên cứu CQ biển là một khuynh hướng mới của địa lý hiện đại [100, 121, 129], nó giải quyết được các vấn đề liên quan đến quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên, BVMT vùng ven biển [132]. Sự khác biệt giữa CQ biển và CQ trên lục địa chủ yếu do không có lớp đất ở đáy và đặc điểm sinh học dinh dưỡng khác nhau so với thực vật trên mặt đất [116]. Tuy nhiên, nghiên cứu CQ biển vẫn còn nhiều hạn ché, liên quan đến những khó khăn trong công tác điều tra, khảo sát các yếu té tự nhiên (địa mạo đáy biên, động lực biên, HST bién,.) và van đề an ninh chủ quyền trên biển.