Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây bình vôi (Stephania rotunda Lour.) là loài cây dây leo có rễ củ thuộc chi Bình vôi (Stephania), họ Tiết dê (Menispermaceae). Trong tự nhiên tại Việt Nam, loài thực vật này phân bố chủ yếu ở các vùng núi đá vôi phía Bắc và một số tỉnh miền Trung như Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Nam, Hải Phòng, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thanh Hóa. Về mặt sinh hóa và dược liệu, rễ củ bình vôi tích lũy hàm lượng alkaloid có giá trị cao, điển hình là L-tetrahydropalmatin (rotundin), stepharin, roemerin và cycleanin, bên cạnh tinh bột, đường khử oxy, acid malic và men oxidase. Trong đó, hoạt chất rotundin (chiếm 0,12 - 0,3% trong củ tươi) đóng vai trò trung tâm với tác dụng giảm đau, an thần, gây ngủ, điều hòa hô hấp và tim mạch; roemerin có tác dụng gây tê niêm mạc, giãn mạch và hạ huyết áp; cepharanthin có hoạt tính kích thích miễn dịch và hỗ trợ giảm tác dụng phụ của thuốc chống ung thư. Ngoài giá trị y học, củ bình vôi còn được khai thác phục vụ mục đích thương mại và cây cảnh sinh vật cảnh.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên bình vôi trong tự nhiên đang chịu áp lực khai thác lớn, trong khi các công trình nghiên cứu về đa dạng di truyền của loài cây này tại Việt Nam cũng như trên thế giới còn rất hạn chế. Để phục vụ công tác thu thập, bảo tồn nguồn gen và lai tạo giống có chất lượng dược liệu ổn định, việc đánh giá quan hệ di truyền ở mức độ phân tử là yêu cầu cấp thiết.
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công nghệ sinh học của tác giả Đặng Huyền Trang, dưới sự hướng dẫn của TS. Ninh Thị Thảo tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam (2022), xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Xác định mối quan hệ di truyền của 32 giống bình vôi dựa trên chỉ thị phân tử RAPD nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn, phân loại và chọn tạo giống mới.
- Nhiệm vụ/yêu cầu nghiên cứu:
- Tách chiết được DNA tổng số đảm bảo đạt tiêu chuẩn làm khuôn cho phản ứng PCR.
- Thiết lập thành phần và điều kiện của phản ứng RAPD-PCR phù hợp, cho sản phẩm có tính lặp lại cao, băng điện di rõ ràng, sắc nét.
- Xác định mối quan hệ di truyền của 32 mẫu giống bình vôi nghiên cứu dựa trên kết quả phân tích chỉ thị RAPD.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mẫu lá của 32 mẫu giống bình vôi (Stephania rotunda Lour.).
- Phạm vi không gian: Các mẫu được thu thập tại 5 tỉnh bao gồm Hòa Bình (19 mẫu tại Kim Bôi, Lương Sơn, Lạc Thủy, Đà Bắc), Hà Giang (5 mẫu tại Vị Xuyên), Điện Biên (3 mẫu tại Mường Nhé, Tuần Giáo), Lai Châu (1 mẫu tại Tân Uyên) và Thanh Hóa (1 mẫu tại Trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ).
- Phạm vi thời gian và địa điểm thực nghiệm: Thực hiện từ tháng 3/2022 đến tháng 9/2022 tại Bộ môn Công nghệ sinh học Thực vật, Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng nguyên lý sinh học phân tử và di truyền học thực vật, trọng tâm là kỹ thuật chỉ thị DNA ngẫu nhiên RAPD (Random Amplified Polymorphism DNA). Chỉ thị RAPD dựa trên nguyên tắc khuếch đại chuỗi DNA bộ gen bằng kỹ thuật PCR sử dụng các đoạn mồi ngẫu nhiên ngắn (10 nucleotide) ở nhiệt độ bắt mồi thấp (32 - 34°C), tỷ lệ GC đạt từ 40% trở lên và không có trình tự bổ sung đầu xuôi - ngược. Kỹ thuật này phát hiện sự đa hình do biến đổi trình tự nucleotid tại vị trí bắt mồi hoặc tái sắp xếp đoạn DNA mà không đòi hỏi thông tin giải trình tự bộ gen trước đó.
Hệ thống phương pháp và quy trình thực nghiệm được triển khai đồng bộ:
- Phương pháp tách chiết DNA tổng số: Áp dụng phương pháp CTAB (Cetyltrimethylammonium bromide) cải tiến. Mô lá (10 - 50 mg) được nghiền nát với đệm CTAB bổ sung Polyvinylpyrrolidone (PVP) và 10 µl 2-mercaptoethanol (βME) để loại bỏ hợp chất polyphenol và polysaccharide thứ cấp. Mẫu được ủ ở 65°C, bổ sung SDS 20%, chiết tách protein và tạp chất bằng hỗn hợp Phenol : Chloroform : Isoamyl alcohol (25:24:1) và Chloroform : Isoamyl alcohol (24:1). DNA được kết tủa bằng ethanol tuyệt đối lạnh ở -20°C, rửa bằng ethanol 70%, để khô tự nhiên và hòa tan trong 100 µl nước cất khử trùng hai lần, bảo quản ở -20°C.
- Kiểm tra chất lượng DNA: Đo mật độ quang phổ hấp thụ ở các bước sóng OD260, OD280, OD230 để đánh giá nồng độ và độ tinh sạch qua tỷ số OD260/OD280 và OD260/OD230; kiểm tra độ toàn vẹn của DNA bằng điện di trên gel agarose 1,0%.
- Kỹ thuật RAPD-PCR: Sử dụng 14 đoạn mồi ngẫu nhiên thuộc các bộ OPA, OPB, OPC, OPD, OPE, OPN, OPO, OPR, OPS. Phản ứng PCR có tổng thể tích 15 µl, bao gồm: 6 µl đệm PCR Mastermix Solution (My-Taq) 2X, 3 µl mồi (5 µM), 3 µl DNA khuôn (10 ng/µl) và 3 µl nước cất vô trùng.
- Chu trình nhiệt PCR: Biến tính ban đầu ở 95°C trong 5 phút; tiếp theo là 35 chu kỳ gồm 95°C trong 30 giây, nhiệt độ bắt mồi Tm (32°C hoặc 34°C tùy mồi) trong 30 giây, kéo dài ở 72°C trong 1 phút 30 giây; kéo dài cuối cùng ở 72°C trong 7 phút; giữ mẫu ở 20°C.
- Điện di và ghi nhận kết quả: Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose 1,0% trong đệm TAE 1X với thuốc nhuộm RedSafe (20.000X) ở hiệu điện thế 80V trong 50 phút; soi và chụp ảnh trên hệ thống UVP Biodoc-it với thang chuẩn DNA ladder.
- Xử lý số liệu tin sinh học: Dữ liệu phổ điện di được mã hóa thành ma trận nhị phân (1: có băng, 0: không có băng). Sử dụng phần mềm Excel, NTSYSpc phiên bản 2.1 với hệ số tương đồng di truyền Sokal và Michener (1958) và thuật toán UPGMA (Unweighted Pair Group Method with Arithmetic Mean) để thiết lập sơ đồ hình cây quan hệ di truyền (dendrogram). Phân tích thành phần chính (PCA) được hỗ trợ bằng phần mềm XLSTAT.
- Các chỉ số đánh giá độ đa hình:
- Chỉ số đa hình di truyền PIC (Polymorphism Information Content) của Botstein và cs.: $PIC(i) = 1 - p_i^2 - q_i^2$.
- Chỉ số sai khác của cặp mồi Rp (Resolving power) của Prevost và Wilkinson (1999): $Rp = \sum I_b$, với $I_b = 1 - [2 \times |0,5 - p|]$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp các tư liệu khoa học về phân loại học, hình thái sinh học, giá trị dược lý của cây bình vôi và ứng dụng của chỉ thị phân tử. Chi Stephania có hơn 40 loài trên thế giới, riêng Việt Nam ghi nhận 13 loài (4 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam). Cây thích ứng điều kiện nhiệt độ 21 - 23°C, lượng mưa 2000 - 2500 mm, pH 6,5 - 7,0. Rễ củ có thể đạt khối lượng tới 20 kg. Về hóa thực vật, tác giả điểm lại các mốc nghiên cứu: năm 1940 Bùi Đình Sang chiết tách rotundin với tỷ lệ 1,2 - 1,5% từ củ tươi; năm 1964 Ngô Văn Thu chiết xuất roemerin; các nghiên cứu của Phạm Thanh Kỳ (1997), Bùi Thị Bằng (2006) ghi nhận hàm lượng rotundin thay đổi theo loài và vùng phân bố (đạt 3,35% ở S. brachyandra tại Hoàng Liên Sơn, 1,31% ở S. sinica tại Hà Nam Ninh). Về phương pháp di truyền, chương tổng quan phân tích ưu thế và giới hạn của chỉ thị RAPD, đồng thời tổng hợp các kết quả ứng dụng RAPD trên các đối tượng dược liệu như quế, nghệ, Đảng sâm, Hoàng liên gai, sâm Ngọc Linh tại Việt Nam và quốc tế.
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc 32 mẫu bình vôi thu thập thực địa, danh mục hóa chất, bộ kit sinh học phân tử (My-Taq 2X, RedSafe, đệm TAE), thông số 14 cặp mồi RAPD, quy trình chuẩn bị dung dịch đệm CTAB và các bước thao tác phòng thí nghiệm. Quy trình tách chiết DNA được chuẩn hóa qua 18 bước chặt chẽ, tối ưu hóa các điều kiện ly tâm (tốc độ 13.700 rpm và 5.400 rpm ở 4°C). Thành phần phản ứng RAPD-PCR 15 µl cùng chu trình luân nhiệt được chi tiết hóa để đảm bảo tính lặp lại của kết quả thực nghiệm. Phương pháp tính toán các chỉ số thống kê phân tử (PIC, Rp, hệ số Sokal & Michener, giải thuật UPGMA) được xác lập cụ thể về mặt toán học.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm thu được từ 3 nội dung nghiên cứu chính:
- Kết quả tách chiết DNA tổng số:
32 mẫu bình vôi đều cho hàm lượng DNA đạt yêu cầu. Tỷ số OD260/OD280 dao động trong khoảng 1,71 - 2,07; nồng độ DNA dao động từ 117 ng/µl (mẫu 27 - Lai Châu) đến 1054 ng/µl (mẫu 5 - Hòa Bình). Điện di trên gel agarose 1,0% cho thấy các băng DNA tổng số đậm nét, kích thước lớn và ít bị đứt gãy.
| Chỉ số quang phổ / nồng độ |
Giá trị thấp nhất |
Giá trị cao nhất |
Mẫu đại diện tiêu biểu |
| Nồng độ DNA ([DNA]) |
117 ng/µl |
1054 ng/µl |
Mẫu 27 (thấp nhất) / Mẫu 5 (cao nhất) |
| Tỷ số OD260/OD280 |
1,71 |
2,07 |
Mẫu 10 (1,71) / Mẫu 11, 13 (2,07) |
| Tỷ số OD260/OD230 |
1,13 |
2,21 |
Mẫu 7 (1,13) / Mẫu 11, 30 (2,21) |
- Kết quả phản ứng RAPD-PCR và phân tích đa dạng di truyền:
Phản ứng kiểm tra với mồi OPA01 cho sản phẩm kích thước dao động trong khoảng 250 - 2500 bp. Phân tích 14 mồi RAPD trên 32 mẫu giống ghi nhận tổng số 91 locus, trong đó có 83 locus đa hình (chiếm tỷ lệ đa hình trung bình 89,63%). Tất cả 14 mồi đều tạo ra băng đa hình. Tổng số băng khuếch đại được là 1346 băng, trung bình 96,14 băng/mồi và 42,06 băng/mẫu.
Bảng tổng hợp đặc tính khuếch đại và chỉ số phân tử của 14 mồi RAPD:
| STT |
Tên mồi |
Trình tự mồi (5' - 3') |
Tm (°C) |
Tổng số locus |
Số locus đa hình |
Tỷ lệ đa hình (%) |
Tổng số băng nhân bản |
Số băng / mẫu |
Chỉ số PIC |
Chỉ số Rp |
| 1 |
OPA01 |
GAGGCCCTTC |
34 |
8 |
8 |
100,00 |
143 |
4,47 |
0,30 |
0,88 |
| 2 |
OPA02 |
TGCCGAGCTG |
34 |
8 |
7 |
87,50 |
101 |
3,16 |
0,17 |
0,79 |
| 3 |
OPB01 |
GTTTCGCTCC |
32 |
8 |
8 |
100,00 |
66 |
2,06 |
0,19 |
0,52 |
| 4 |
OPB04 |
GGACTGGAGT |
32 |
7 |
5 |
71,43 |
102 |
3,19 |
0,20 |
0,91 |
| 5 |
OPC03 |
GGGGGTCTTT |
32 |
8 |
7 |
87,50 |
168 |
5,25 |
0,29 |
0,69 |
| 6 |
OPC08 |
TGGACCGGTG |
34 |
7 |
7 |
100,00 |
116 |
3,63 |
0,32 |
0,96 |
| 7 |
OPD01 |
ACCGCGAAGG |
34 |
4 |
3 |
75,00 |
55 |
1,72 |
0,25 |
0,86 |
| 8 |
OPE04 |
GTGACATGCC |
32 |
4 |
3 |
75,00 |
66 |
2,06 |
0,09 |
0,97 |
| 9 |
OPE07 |
AGATGCAGCC |
32 |
5 |
5 |
100,00 |
135 |
4,22 |
0,25 |
0,31 |
| 10 |
OPN03 |
GGTACTCCCC |
34 |
6 |
6 |
100,00 |
82 |
2,56 |
0,26 |
0,85 |
| 11 |
OPO01 |
GGCACGTAAG |
32 |
6 |
5 |
83,33 |
50 |
1,56 |
0,16 |
0,52 |
| 12 |
OPO02 |
ACGTAGCGTC |
32 |
10 |
10 |
100,00 |
128 |
4,00 |
0,27 |
0,80 |
| 13 |
OPS05 |
TTTGGGGCCT |
32 |
6 |
6 |
100,00 |
66 |
2,06 |
0,29 |
0,69 |
| 14 |
OPR12 |
ACAGGTGCGT |
32 |
4 |
3 |
75,00 |
68 |
2,13 |
0,35 |
0,94 |
| Tổng |
|
|
|
91 |
83 |
- |
1346 |
- |
3,39 |
10,69 |
| TB |
|
|
|
6,5 |
5,93 |
89,63 |
96,14 |
3,00 |
0,20 |
0,76 |
Chỉ số PIC biến động từ 0,09 (mồi OPE04) đến 0,35 (mồi OPR12), giá trị trung bình là 0,20 - phù hợp với đặc trưng của chỉ thị phân tử trội (giới hạn tối đa 0,5). Chỉ số phân biệt sai khác Rp biến động từ 0,31 (OPE07) đến 0,97 (OPE04), trung bình đạt 0,76. Mồi OPO02 phát hiện được nhiều locus nhất (10 locus), trong khi mồi OPC03 cho số lượng băng trung bình trên mỗi mẫu cao nhất (5,25 băng/mẫu).
- Phân tích quan hệ di truyền:
Hệ số tương đồng di truyền giữa 32 mẫu dao động từ 0,478 đến 0,956, trung bình đạt 0,752. Cặp mẫu có hệ số tương đồng cao nhất là mẫu 29 và mẫu 30 (cùng thu thập tại Đà Bắc, Hòa Bình) với giá trị 0,956. Cặp mẫu có hệ số tương đồng thấp nhất (xa nhau nhất về mặt di truyền) là mẫu 8 (Vị Xuyên, Hà Giang) và mẫu 13 (Lương Sơn, Hòa Bình) với giá trị 0,478.
Ở ngưỡng khoảng cách di truyền trung bình 0,752 trên cây phân loại UPGMA, 32 mẫu bình vôi nghiên cứu được phân thành 7 nhóm rõ rệt:
- Nhóm I: Gồm 19 mẫu giống đều thu thập tại tỉnh Hòa Bình, phân tách thành hai nhóm phụ: Ia (gồm các mẫu 1, 2, 3, 4, 5, 11, 12) và Ib (gồm các mẫu 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 28, 29, 30, 31).
- Nhóm II: Gồm duy nhất mẫu 14 (thu thập tại Cao Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình) tách thành một nhánh riêng biệt.
- Nhóm III: Gồm 2 mẫu 13 và 15 (cùng thu thập tại Cao Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình).
- Nhóm IV: Gồm mẫu 24 (Mường Nhé, Điện Biên) và mẫu 27 (Tân Uyên, Lai Châu).
- Nhóm V: Gồm 2 mẫu 25 và 26 (Mường Thín, Tuần Giáo, Điện Biên).
- Nhóm VI: Gồm duy nhất mẫu 32 (thu thập tại Quảng Thành, TP. Thanh Hóa) đứng độc lập hoàn toàn.
- Nhóm VII: Gồm 5 mẫu giống thu thập tại Vị Xuyên, Hà Giang, chia làm 2 phân nhóm: phân nhóm VIIa (mẫu 6, 7, 9, 10) và phân nhóm VIIb (mẫu 8).
Kết quả thảo luận chỉ ra rằng sự phân nhóm trên sơ đồ quan hệ di truyền phản ánh sự tương đồng với vị trí địa lý thu thập: các mẫu ở cùng địa phương có xu hướng gom cụm gần nhau, trong khi các mẫu cách biệt địa lý (như Thanh Hóa - nhóm VI hay Hà Giang - nhóm VII) hình thành các nhánh tiến hóa riêng rẽ.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả định lượng cụ thể:
- Thiết lập quy trình tách chiết DNA bằng phương pháp CTAB tối ưu cho mô lá bình vôi, thu được dịch chiết có nồng độ cao (117 - 1054 ng/µl) và độ sạch đạt chuẩn PCR (OD260/OD280 đạt 1,71 - 2,07).
- Tuyển chọn và chuẩn hóa thành công điều kiện phản ứng RAPD-PCR cho 14 đoạn mồi ngẫu nhiên. Khuếch đại được 1346 vạch băng với kích thước 250 - 2500 bp; xác định được 91 locus, trong đó có 83 locus đa hình (tỷ lệ đa hình trung bình đạt 89,63%).
- Xác định hệ số tương đồng di truyền trung bình của quần thể mẫu nghiên cứu là 0,752 (biến thiên 0,478 - 0,956). Cặp mẫu tương đồng cao nhất là mẫu 29 và 30 (0,956); cặp mẫu khác biệt nhất là mẫu 8 và 13 (0,478).
- Xây dựng thành công sơ đồ quan hệ di truyền (dendrogram) phân loại 32 mẫu bình vôi thành 7 nhóm di truyền độc lập gắn liền với khu vực địa lý thu mẫu.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Kiến nghị tiếp tục thu thập và mở rộng tập đoàn nguồn gen cây bình vôi trên các địa bàn sinh thái khác nhau.
- Áp dụng các kỹ thuật phân tích DNA chuyên sâu nhằm định hướng hiệu quả cho chiến lược bảo tồn gen quý, phục vụ công tác lai tạo giống bình vôi đạt năng suất củ và hàm lượng hoạt chất dược liệu cao.
Đóng góp khoa học tự nêu:
- Khóa luận là công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam áp dụng kỹ thuật chỉ thị phân tử (RAPD) để khảo sát, đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen cây bình vôi (Stephania rotunda Lour.).
- Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu phân tử thực nghiệm có độ tin cậy cao, tạo nền tảng khoa học cho công tác phân loại học, quản lý nguồn gen thực vật và chọn tạo giống bình vôi phục vụ ngành sản xuất dược liệu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Chỉ thị phân tử RAPD là chỉ thị trội, do đó không có khả năng phân biệt cá thể đồng hợp tử và dị hợp tử tại các locus nghiên cứu; độ tái lập của phản ứng phụ thuộc nhiều vào điều kiện luân nhiệt và nồng độ hóa chất.
- Dung lượng mẫu còn giới hạn (32 mẫu) và mật độ thu thập chưa đồng đều giữa các vùng sinh thái, trong đó số lượng mẫu tập trung chủ yếu ở tỉnh Hòa Bình (19/32 mẫu), các tỉnh Lai Châu và Thanh Hóa chỉ mới có 1 mẫu đại diện.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát, thu thập bổ sung nguồn mẫu giống bình vôi tại các vùng núi đá vôi miền Trung, miền Nam và các khu bảo tồn thiên nhiên.
- Ứng dụng kết hợp thêm các hệ thống chỉ thị phân tử đồng trội hoặc chỉ thị trình tự gen thế hệ mới (như SSR, ISSR, DNA barcoding hoặc giải trình tự gen matK, ITS, trnL) nhằm tăng độ phân giải phân tử và tính chuẩn xác của cây phát sinh chủng loại.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận mang lại giá trị học thuật và thực tiễn chuyên môn rõ rệt:
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Công nghệ sinh học, Sinh học thực vật, Nông học, Dược học và Lâm sinh có định hướng làm việc về di truyền học phân tử hoặc phát triển dược liệu.
- Các phần đáng tham khảo:
- Quy trình 18 bước tách chiết DNA bằng dung dịch CTAB cải tiến (có bổ sung PVP và βME), xử lý hiệu quả mô lá thực vật giàu hợp chất thứ cấp và polysaccharide.
- Danh mục trình tự, thông số nhiệt độ Tm và thành phần phản ứng RAPD-PCR của 14 cặp mồi ngẫu nhiên.
- Phương pháp mã hóa ma trận dữ liệu nhị phân và quy trình ứng dụng phần mềm NTSYSpc 2.1 tính toán hệ số Sokal & Michener, xây dựng cây phân loại UPGMA và tính toán các chỉ số PIC, Rp.
Câu hỏi thường gặp
1. Mồi RAPD nào cho số lượng locus khuếch đại cao nhất và mồi nào có chỉ số đa hình PIC cao nhất?
Mồi OPO02 tạo ra số lượng locus khuếch đại cao nhất với 10 locus (toàn bộ 10 locus đều cho tính đa hình, tỷ lệ 100%). Mồi có chỉ số đa hình PIC cao nhất là OPR12 với giá trị PIC đạt 0,35.
2. Độ tinh sạch và nồng độ DNA tổng số của 32 mẫu bình vôi tách chiết bằng phương pháp CTAB đạt mức nào?
Độ tinh sạch của DNA thể hiện qua tỷ số OD260/OD280 dao động từ 1,71 đến 2,07; nồng độ DNA tổng số thu được dao động trong khoảng từ 117 ng/µl (mẫu 27) đến 1054 ng/µl (mẫu 5), đáp ứng đầy đủ yêu cầu làm khuôn cho phản ứng PCR.
3. Cặp mẫu bình vôi nào có hệ số tương đồng di truyền cao nhất và thấp nhất trong nghiên cứu?
Cặp mẫu 29 và 30 (cùng thu thập tại xã Đoàn Kết, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình) có hệ số tương đồng cao nhất là 0,956. Cặp mẫu có hệ số tương đồng thấp nhất là mẫu 8 (xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) và mẫu 13 (xã Cao Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) với hệ số tương đồng là 0,478.
4. 32 mẫu giống bình vôi được phân thành mấy nhóm chính và đặc điểm phân bố nhóm theo địa lý ra sao?
Tại mức tương đồng di truyền trung bình 0,752, 32 mẫu được chia thành 7 nhóm chính. Mẫu thu thập tại Hòa Bình tập trung chủ yếu ở nhóm I (19 mẫu), nhóm II (mẫu 14) và nhóm III (mẫu 13, 15); mẫu thu thập tại Lai Châu và Điện Biên thuộc nhóm IV (mẫu 24, 27) và nhóm V (mẫu 25, 26); mẫu thu thập tại Thanh Hóa tạo thành nhóm VI độc lập (mẫu 32); 5 mẫu thu thập tại Hà Giang tập trung hoàn toàn trong nhóm VII.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Huyền Trang đã đánh giá thành công tính đa dạng di truyền của 32 mẫu giống bình vôi (Stephania rotunda Lour.) thu thập từ 5 tỉnh thành thông qua 14 chỉ thị phân tử RAPD. Kết quả thực nghiệm xác định được 91 locus với tỷ lệ locus đa hình cao (89,63%), hệ số tương đồng di truyền dao động từ 0,478 đến 0,956 và phân loại các mẫu giống thành 7 nhóm di truyền gắn liền với yếu tố địa lý. Đây là công trình thực nghiệm đầu tiên ứng dụng chỉ thị DNA để khảo sát nguồn gen bình vôi tại Việt Nam, cung cấp dữ liệu phân tử quan trọng phục vụ định hướng bảo tồn và lai tạo giống dược liệu này trong tương lai.