Đặt vấn đề Cây bình vôi (Stephania rotunda Lour.) đƣợc tìm thấy ở những vùng có núi đá nhƣ: Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa ình, Hà Nam, Hải Phòng, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn,. Trong củ bình vôi có chứa alkaloid bao gồm L- tetrahydropalmatin (rotundin), stepharin, roemerin, cycleanin. Ngoài ra còn có tinh bột, đƣờng khử oxygen, acid malic, men oxydase. Rotundin có tác dụng giảm đau, an thần, gây ngủ rất hiệu quả, điều hòa hô hấp và tim mạch.
Hàm lƣợng hoạt chất này có trong củ bình vôi tƣơi khoảng 0,12 – 0,3%. Roemerin có tác dụng gây tê niêm mạc, giãn mạch, hạ huyết áp. Cepharanthin đƣợc coi là một chất có tác dụng kích thích miễn dịch và làm giảm nhẹ một cách hữu hiệu những tác dụng phụ của các thuốc chống ung thƣ. Ngoài công dụng điều trị bệnh, củ bình vôi còn dùng làm vật trang trí và đƣợc nhiều ngƣời ƣa chuộng.
Trong những năm gần đây, các chỉ thị phân tử nhƣ RAPD, ISSR, SSR, DNA arcode đã đƣợc sử dụng phổ biến trong đánh giá di truyền và xây dựng cây phân loài. Việc nghiên cứu đa dạng di truyền của các giống bình vôi cung cấp dữ liệu ở mức độ phân tử, giúp cho việc lai chọn tạo giống tiết kiệm đƣợc thời gian và công sức. Nghiên cứu đa dạng di truyền cũng tạo cơ sở khoa học cho bảo tồn nguồn gen các loài. Tuy nhiên các nghiên cứu về đa dạng di truyền cây bình vôi ở Việt Nam và trên thế giới còn rất mới mẻ.
Đề tài “Đánh giá đa dạng di truyền một số mẫu giống bình vôi (Stephania rotunda Lour.) sử dụng chỉ thị RAPD” đƣợc tiến hành để đánh giá đa dạng nguồn gen của 32 giống bình vôi đƣợc thu thập ở một số tỉnh thành Việt Nam, từ đó đƣa ra những nhận định ban đầu và quan hệ di truyền của các giống bình vôi, góp phần cung cấp dữ liệu và sử dụng trong công tác bảo tồn và lai tạo giống bình vôi phục vụ sản xuất. Mục tiêu và yêu cầu 1. Mục tiêu Xác định mối quan hệ di truyền của 32 giống bình vôi dựa trên chỉ thị phân tử RAPD nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn, phân loại và chọn tạo giống mới. Yêu cầu - Tách chiết đƣợc DNA tổng số đảm bảo đạt tiêu chuẩn để làm khuôn cho phản ứng PCR.
- Thiết lập thành phần và điều kiện của phản ứng RAPD - PCR phù hợp cho sản phẩm có tính lặp lại cao, các sản phẩm sau điện di cho vạch băng rõ ràng, sắc nét. - Xác định đƣợc mối quan hệ di truyền của 32 mẫu giống bình vôi nghiên cứu dựa trên kết quả phân tích chỉ thị RAPD. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Tổng quan về cây bình vôi 2. Nguồn gốc và phân loại 2.Nguồn gốc Bình vôi là tên gọi của nhiều loại cây là dây leo có rễ củ thuộc chi bình vôi (Strephania), họ Tiết dê (Menispemaceae).
Chi bình vôi có nguồn gốc ở miền Đông, Nam Châu Á và Australia. Ở Việt Nam, cây bình vôi còn có các tên gọi khác nhƣ là: cây củ một, củ mối tròn, dây mối trơn, củ gà ấp… và mọc hoang tại nhiều vùng rùng núi.Phân loại Bảng 1. Phân loại khoa học chi Bình vôi (Stephania spp) Giới (regnum) Plantae Ngành Magloliophyta Phân lớp Magloliosida (Dicotyedones) Bộ (ordo) Ranunculales Họ (familia) Menispermaceae Chi (genus) Stephania Loài (species) Rotunda Chi Bình vôi hay chi Thiên kim đằng (danh pháp khoa học: Stephania spp, đồng nghĩa: Perichasma) là một chi thực vật có hoa trong họ Biển bức cát (Menispermaceae hay còn gọi là họ Tiết dê). Một số loài công bố tại Việt Nam: Stephania glabra (Roxb) Miers, S.
Trên thế giới, chi ình vôi có hơn 40 loài. Ở Việt Nam, chi Bình vôi có 13 loài với 4 loài đã có tên trong “Sách đỏ Việt Nam”. Đặc điểm sinh học của cây bình vôi Hình 2. Cây bình vôi (Nguồn internet) Bình vôi là cây mọc hoang dại, thích hợp ở nhiệt độ trung bình 21 – 23°C, lƣợng mƣa 2000 – 2500 mm, ƣa đất nhiều mùn, thoát nƣớc, độ pH = 6,5 – 7.
Các loại bình vôi có đặc điểm chung: dây leo, dài từ 2 – 6m, thân nhẵn hơi xoắn vặn, sống lâu năm. Rễ củ đa dạng thay đổi tùy theo từng nơi phát triển, có thể rất to và nặng tới gần 20kg, vỏ ngoài xù xì màu nâu – nâu đen. Lá mọc so le: phiến lá hình bầu dục, hoặc hình tim hoặc hơi tròn, hai mặt nhẵn. Cụm hoa hình xim tán mọc ở kẽ lá hoặc những cành đá rụng lá; hoa đực và hoa cái khác gốc, hoa đực có 6 lá đài xếp thành hai vòng, 3 cánh hoa màu vàng cam; nhị 2-6 thƣờng là 4; hoa cái có 1 lá đài, 2 cánh hoa; bầu bình trứng.
Quả hạch hơi dẹt, khi chín có màu đỏ tƣơi, bên trong chứa một hạt hình móng ngựa có gai, hai mặt bên lõm ở giữa có lỗ thủng hoặc không. Mùa hoa: tháng 4 – 6; mùa quả: tháng 8 – 10. (Đỗ Tất Lợi, 1991) Đặc điểm hình thái của một số loài bình vôi: (Tài nguyên cây thuốc Việt Nam, 1993) 4 Stephania rotunda Lour: Dây leo có rễ củ vùi dƣới đất một nửa giống hình củ bình vôi, ruột màu vàng, thơm. Lá hình khiên, mọc cách.
Phổ biến ở các rừng thƣa Phú Thọ, Vĩnh Yên, Ninh ình,. Stephania pierrei Diels: Ngọn non có nhiều chấm màu tím hồng. Lá có kích thƣớc nhỏ hơn tất cả các loài khác. Hoa đực không có cánh hoa.Lo et Yang: Lá có phiến hình tam giác, cuống lá bằng hoặc dài hơn phiến lá.
Tsoong: Cành non và cuống lá có dịch màu trắng hoặc vàng nhạt. cambodia Gagnep: Cuống cụm hoa và cuống tán giả dài hơn so với các loài khác.Wu: Nửa cuống lá phía đính vào phiến lá và gân lá mặt sau có màu tím hay tím hồng.Lo: Cuống lá rất dài, có khi đến 14cm, giá noãn có lỗ lệch một bên. cepharatha Hay: Giá noãn không có lỗ. sinica Diels: Giá noãn không có lỗ.
Các loại bình vôi ở nƣớc ta hiện nay có diện phân bố rất rộng trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Thƣờng tập trung ở các vùng núi đá vôi nhƣ Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Giang, Phú Thọ, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu. Sự phân bố của mỗi loài rất khác nhau, tùy theo đặc tính sinh học. Giá trị kinh tế và giá trị dƣợc liệu của cây bình vôi 2.Giá trị kinh tế Cây bình vôi là một loại cây thuốc nam mọc tự nhiên ở một số vùng của nƣớc ta, là loại cây dạng leo dễ trồng, phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt Nam.
Nó có thể phát triển rất tốt khi đƣợc trồng trong đất tơi xốp, nhiều 5 mùn, thoát nƣớc mà không cần tốn công chăm sóc hay cần kỹ thuật cao nhƣng vẫn mang lại giá trị kinh tế cao cho ngƣời trồng. Cây bình vôi đƣợc coi là cây có tiềm năng lớn trong y học, là nguồn nguyên liệu cho ngành dƣợc. Hiện nay, trên thị trƣờng củ bình vôi đƣợc bán với giá 200. Giá trị dược liệu Cây bình vôi thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), là cây chứa nhiều hoạt chất có giá trị về dƣợc liệu.
Cây bình vôi có tác dụng thanh nhiệt, giải độc. Hoạt chất đƣợc các nhà khoa học quan tâm và chiết xuất nhiều từ cây bình vôi là rotundin – một hoạt chất rất cần trong y học. Theo kinh nghiệm trong y học cổ truyền, bình vôi đƣợc dùng dƣới dạng thuốc sắc hay ngâm rƣợu để chữa bệnh mất ngủ, ho hen, sốt, đau bụng, kiết lỵ,. liều dùng: 3 – 6 g/ngày.
Thuốc ngâm rƣợu gồm bột bình vôi (1 phần) với rƣợu 40° (5 phần); mỗi ngày uống 5 – 15 ml, có thể thêm đƣờng cho dễ uống. Để tránh bị ngộ độc, chỉ nên sử dụng với liều nhỏ: ngƣời lớn ngày uống 3 – 6g; trẻ nhỏ dùng với liều lƣợng 0,02 – 0,023g đối với tẻ 1 – 5 tuổi; 0,03 – 0,05g đối với trẻ 5 – 10 tuổi,.(Bùi Thị Bằng, 2006) Trong y học hiện đại, rotundin đƣợc dùng làm thuốc an thần, giảm đau, điều trị một số trƣờng hợp rối loạn tâm thần chức năng, trại thái căng thẳng thần kinh, mất ngủ dai dẳng do nguyen nhân tâm tần.05 – 0,10g/ngày, dƣới dạng viên L-tetrahydropalmatin clohydrat, mỗi viên 0,05g. (Dƣợc điển Việt Nam, tập III) Trong củ bình vôi chứa một lƣợng chất alkaloid bao gồm L- tetrahydropalmatin (rotundin), stepharin, roemerin, cycleanin. Những hợp chất này đƣợc sử dụng nhiều để điều chế thuốc, đặc biệt là thuốc an thần.
Chất quan trọng nhất là rotundin. 6 Các công trình khẳng định vai trò của Rotundin trong củ bình vôi đã đƣợc công bố nhƣ sau: Năm 1941, DS. Trần Xuân Thuyết cùng với GS. Đỗ Tất Lợi, onnet và ùi Đình Sang đã chiết xuất thành công từ củ bình vôi Stephania.
Rotunda một hợp chất thuộc nhóm alkaloid và đặt tên là rotundin. Năm 1965, chất này đƣợc xác định là L. Đƣa Việt Nam trở thành nƣớc đầu tiên trên thế giới chiết xuất đƣợc rotundin. Năm 1962, Sm Fakhrudinov xác định roemerin gây tê niêm mạc và phong bế.
Đối với tim ếch cô lập, roemerin có tác dụng ức chế, giảm biên độ và tần số co bóp, với liều cao tim ếch ngừng đập ở thời kỳ tâm trƣơng. Roemerin đối kháng với dụng tăng co bóp ruột của acetylcholine. Đối với hệ thần kinh trung ƣơng với liều thấp moemerin có tác dụng an thần gây ngủ, liều cao kích thích gây co giâth dẫn đến tử vong. Roemerin còn có tác dụng dãn mạch hạ huyết áp.
Theo kết quả nghiên cứu của Mustuo Kozuka và cs (1984), Cepharanthin có tác dụng dãn mạch nhẹ trên những mạch vi tuần hoàn, tăng cƣờng sinh sản kháng thể nên có tác dụng rõ rệt đối với các bệnh giảm bạch cầu do bệnh nhân bị bom nguyên tử, chiếu tia phóng xạ, do dùng thuốc chữa ung thƣ, sự biến động số lƣợng hồng cầu hoặc sắc tố máu hầu nhƣ không có thay đổi khi dùng cepharanthin. Tác dụng phụ do uống cenpharathin liều cao không thấy xuất hiện. Năm 1999, theo Ngô Đại Quang tác dụng dƣợc lý của rotundin đã đƣợc nghiên cứu ở nƣớc ta từ thời Pháp thuộc. Rotundin đƣợc áp dụng từ năm 1944 và đƣợc sử dụng trong suổt cuộc kháng chiến chống Pháp để điều trị có kết quả một số trƣờng hợp đau tim, mất ngủ, hen, đau bụng; tác dụng rõ rệt nhất là gây ngủ và an thần.
Rotundin nguồn gốc tự nhiên có những ƣu điểm nổi trội nhƣ độc tính thấp, sử dụng nạp thuốc tốt, mang lại giấc ngủ sinh lý. Sau 7 khi ngủ không bị mệt mỏi và không gây nhức đầu nhƣ các loại thuốc tổng hợp từ hóa chất. Phạm Thị Kim và cs.