Tổng quan nghiên cứu
Lưu vực sông Ba là mạng lưới sông nội địa lớn thứ hai tại Việt Nam với diện tích tự nhiên đạt khoảng 13.900 km² và tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm xấp xỉ 9,8 tỷ m³. Vùng hạ lưu sông Ba, đặc biệt là khu vực cửa sông Đà Diễn thuộc thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, giữ vai trò huyết mạch đối với hoạt động phát triển kinh tế biển. Đây là nơi neo đậu và lưu thông của gần 1.000 tàu thuyền đánh bắt thủy hải sản, đồng thời là trung tâm dịch chuyển cá ngừ đại dương lớn nhất vùng duyên hải miền Trung.
Tuy nhiên, từ năm 2011 đến nay, diễn biến thủy động lực học tại khu vực cửa sông trở nên vô cùng phức tạp. Hiện tượng bồi lấp luồng chạy tàu diễn ra liên tục, trung bình mỗi năm bãi bồi tiến ra khoảng 15 m ở bờ phải và 8,5 m ở bờ trái. Đồng thời, bờ biển hai bên cửa sông bị sạt lở nghiêm trọng, khiến hàng chục tàu thuyền bị mắc cạn hoặc hư hại, gây tổn thất kinh tế nhiều tỷ đồng và đe dọa trực tiếp đến an toàn đê kè đô thị.
Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là thiết lập hệ thống mô hình toán thủy lực và bùn cát 1 chiều, 2 chiều nhằm mô phỏng định lượng quá trình bồi xói lòng dẫn, làm rõ cơ chế tương tác sông - biển và đánh giá tác động của hệ thống hồ chứa thượng lưu. Phạm vi nghiên cứu trải dài từ cầu Đà Rằng mới qua cầu Hùng Vương đến cửa Đà Diễn và mở rộng ra vùng biển ven bờ đến đường đẳng sâu -15 m, dựa trên chuỗi số liệu khảo sát thủy hải văn và địa hình giai đoạn 2009 - 2016. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn lớn khi cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác quy hoạch chỉnh trị sông biển, giảm thiểu rủi ro bồi lấp với độ chính xác kiểm định đạt trên 85%.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết thủy động lực học sông biển và cơ học vận chuyển bùn cát hiện đại. Hai hệ thống lý thuyết cốt lõi được áp dụng bao gồm: lý thuyết dòng chảy không ổn định một chiều Saint-Venant mô tả thủy lực mạng lưới sông và hệ phương trình nước nông hai chiều phi tuyến tích phân theo chiều sâu (shallow water equations) kết hợp phương trình năng lượng sóng phổ biến thiên.
Mô hình nghiên cứu tích hợp ba khái niệm động lực học chính:
- Cân bằng bùn cát vùng cửa sông (Sediment Budget): Xác định sự chênh lệch giữa lượng bùn cát bồi tích từ thượng lưu đổ về và lượng bùn cát dịch chuyển dọc bờ do sóng biển.
- Động lực học tương tác sông - biển: Cơ chế tương tranh giữa năng lượng dòng chảy mùa lũ/mùa kiệt với trường sóng và chế độ nhật triều không đều có biên độ trung bình khoảng 1,50 ± 0,20 m.
- Biến hình lòng dẫn: Quy luật xói lở đáy và bồi tụ trầm tích dựa trên các công thức tải cát thực nghiệm kinh điển như Engelund - Hansen và Ackers - White.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu đầu vào được thu thập đồng bộ từ chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn 40 năm (1977 - 2016) tại trạm Củng Sơn, chuỗi số liệu gió 20 năm tại trạm Tuy Hòa và dữ liệu địa hình đo đạc chi tiết qua 2 giai đoạn tháng 11/2015 và tháng 3/2016 thuộc đề tài khoa học cấp nhà nước mã số ĐTĐL.15/15.
Cỡ mẫu trầm tích đáy bao gồm 18 vị trí đo đạc phân bố đại diện từ hạ lưu sông ra đến cửa biển ngoài khơi. Phương pháp chọn mẫu là lấy mẫu trầm tích tầng đáy có định vị DGPS kết hợp phân tích rây cấp phối hạt trong phòng thí nghiệm. Kết quả phân tích cỡ hạt xác định đường kính hạt trung bình d50 biến thiên từ 0,003 mm đối với bùn sét đến 1,4 mm đối với cát thô.
Phương pháp phân tích chủ đạo là mô hình toán kết hợp công nghệ GIS số hóa mô hình độ cao số (DEM). Lý do lựa chọn mô hình 1D HEC-RAS cho đoạn sông phía trong và mô hình 2D MIKE 21/3 FM Coupled (gồm các phân hệ HD, SW, ST) cho vùng cửa biển nhằm tối ưu hóa tài nguyên tính toán, đồng thời phản ánh chân thực trường sóng và dòng chảy xoáy phức tạp vùng ven bờ. Các mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định qua các chuỗi số liệu mùa lũ năm 2013, 2015, 2016 và mùa kiệt năm 2014, 2016 với hệ số tương quan đạt trên 0,85.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, hệ thống 198 hồ chứa thủy lợi và thủy điện trên toàn lưu vực với tổng dung tích khoảng 1.560,2 triệu m³ (điển hình như hồ Ba Hạ, hồ Sông Hinh) đã làm thay đổi căn bản chế độ bùn cát hạ lưu. Các hồ chứa giữ lại khoảng 90% lượng bùn cát lơ lửng thượng nguồn. Kể từ khi thủy điện Sông Ba Hạ đi vào vận hành từ năm 2008, độ đục trung bình nhiều năm tại trạm Củng Sơn suy giảm nghiêm trọng so với mức 228,0 g/m³, lưu lượng dòng chảy kiệt 1 ngày giảm 17% và tần suất xuất hiện dòng chảy xung thấp tăng 57%.
Thứ hai, kết quả chồng ghép bản đồ DEM giai đoạn tháng 11/2015 đến tháng 3/2016 tại 6 phân vùng cho thấy xu thế bồi tụ chiếm ưu thế ở dải ven biển. Vùng bờ Bắc ngoài cửa sông (Vùng 4) bị bồi trung bình 0,22 m với tổng lượng bùn cát tích tụ lên tới 462.523,1 tấn. Vùng bờ Nam ngoài cửa (Vùng 6) ghi nhận mức bồi trung bình 0,13 m với tổng lượng bồi lắng đạt 309.313,32 tấn.
Thứ ba, khu vực luồng tàu chạy qua cửa sông (Vùng 5) xuất hiện sự phân hóa bồi xói cực đoan. Tại mép cửa sông, trầm tích bồi đắp mạnh làm đáy nâng cao cực đại tới 1,71 m. Ngược lại, khi dịch chuyển ra phía ngoài đến đường đẳng sâu -8 m, hiện tượng xói sâu xuất hiện với mức hạ thấp đáy lớn nhất đạt -1,84 m, đưa tổng lượng biến động khối lượng của vùng luồng đạt mức xói tịnh là -76.728 tấn.
Thứ tư, bãi bồi bờ Bắc phường 6 và bờ Nam xóm Rớ thuộc thành phố Tuy Hòa đối mặt với nguy cơ xâm thực mãnh liệt. Gió mùa Đông Bắc thịnh hành vào mùa đông chiếm tần suất 50 - 60%, tạo nên trường sóng NE có chiều cao sóng có nghĩa cực đại đạt 4,0 m, tác động trực tiếp gây sạt lở sâu vào đất liền từ 50 m đến 80 m tại nhiều vị trí trọng điểm.
Thảo luận kết quả
Diễn biến bồi xói tại cửa Đà Diễn chịu sự chi phối của quy luật mất cân bằng động lực theo mùa. Trong 8 tháng mùa khô (tháng 1 đến tháng 8), tổng lượng dòng chảy sông chỉ chiếm 29,2% lượng nước cả năm, thậm chí tháng 4 chỉ đạt 1,4%. Lúc này, động lực sông suy yếu hoàn toàn trước động lực biển; sóng hướng Đông Bắc và dòng chảy ven bờ vận chuyển cát biển bồi đắp dải cát chắn phía ngoài, khóa kín luồng tàu.
Vào mùa lũ (tháng 9 đến tháng 12), dòng chảy sông chiếm tới 71,8% tổng lượng nước năm với lưu lượng đỉnh lũ tháng 11 đạt bình quân 863,2 m³/s. Động lực dòng lũ mạnh mẽ đẩy bùn cát bồi lấp ra ngoài biển, tạo luồng sâu tự nhiên nhưng lại vận chuyển một lượng lớn cát thô tái bồi lắng tạo thành các cồn cát ngầm phía ngoài cửa.
Các phát hiện này tương thích với các nghiên cứu cửa sông miền Trung như cửa Tư Hiền hay cửa Mỹ Á, khẳng định tính chất dịch chuyển cửa sông dạng lagoon dưới tác động tổng hợp của dòng ven và sóng biển. Kết quả tính toán được trực quan hóa rõ nét qua các bảng phân tích dung tích bồi xói theo từng vùng và hệ thống bản đồ số 2D, thể hiện sự trùng khớp giữa đường đẳng cao độ mô phỏng với dữ liệu đo đạc thực tế ngoài hiện trường.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các phân tích định lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ nhằm ổn định luồng lạch hạ lưu sông Ba:
- Xây dựng đê mỏ hàn và kè hướng dòng đôi bờ cửa sông: Thiết kế hệ thống kè mỏ hàn giảm sóng và đê chắn cát kéo dài ra đường đẳng sâu -4,0 m nhằm mục tiêu giảm 60 - 70% lượng bùn cát biển xâm nhập vào luồng chạy tàu. Thời gian triển khai dự kiến giai đoạn 2024 - 2026, do Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư.
- Quy định quy chế vận hành xả nước duy trì dòng chảy môi trường: Yêu cầu các nhà máy thủy điện thượng lưu như Sông Ba Hạ và Sông Hinh duy trì lưu lượng xả tối thiểu mùa kiệt không thấp hơn 45 m³/s nhằm đẩy mặn và duy trì động lực thủy lực đẩy cát đáy. Kế hoạch áp dụng ngay từ quý I/2024 dưới sự kiểm soát của Cục Quản lý Tài nguyên nước.
- Thực hiện nạo vét luồng thông thủy định kỳ kết hợp tận thu cát nhiễm mặn: Triển khai công tác nạo vét thông luồng trước mùa khai thác hải sản (tháng 3 đến tháng 4 hàng năm), duy trì mớn nước luồng tàu ổn định ở cao độ đáy từ -3,5 m đến -4,0 m, đảm bảo an toàn cho tàu công suất 400 - 600 CV. Đơn vị thực hiện là Ban Quản lý Cảng cá Phú Yên.
- Lắp đặt trạm quan trắc tự động động lực hình thái và đường bờ: Xây dựng hệ thống quan trắc sóng, dòng chảy và đo sâu hồi âm định kỳ 2 lần/năm (trước và sau mùa mưa bão) nhằm kiểm soát sai số dự báo diễn biến bồi xói dưới 10%. Đơn vị chủ trì là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên, hoàn thành lắp đặt thiết bị trong năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:
- Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (Sở NN&PTNT, Sở TN&MT tỉnh Phú Yên): Ứng dụng nguồn dữ liệu tính toán khối lượng bồi xói và ranh giới sạt lở để thẩm định, phê duyệt các dự án quy hoạch hạ tầng đô thị ven biển và bảo vệ khu dân cư xóm Rớ.
- Kỹ sư tư vấn thiết kế công trình thủy lợi, thủy công và hàng hải: Khai thác bộ thông số mô hình thủy lực 1D HEC-RAS và 2D MIKE 21/3 FM làm tài liệu đầu vào chuẩn xác để tính toán tải trọng sóng, cao trình đỉnh đê kè và kích thước luồng tàu.
- Nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học ngành Thủy văn, Hải dương học: Tham khảo khung phương pháp luận kết nối mô hình thủy văn MIKE NAM, thủy lực HEC-RAS và bùn cát MIKE 21/3 FM trong giải quyết bài toán động lực học hình thái cửa sông phức tạp.
- Ban quản lý cảng cá và cộng đồng ngư dân thành phố Tuy Hòa: Nắm bắt chu kỳ bồi lấp và biến đổi luồng lạch theo từng tháng trong năm để xây dựng phương án điều hướng tàu thuyền ra vào cảng an toàn, giảm thiểu thiệt hại do mắc cạn.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân cốt lõi khiến cửa Đà Diễn bị bồi lấp nghiêm trọng trong mùa khô là gì?
Trong mùa khô (tháng 1 đến tháng 8), lưu lượng nước từ sông Ba suy giảm mạnh, chỉ chiếm 29,2% tổng lượng dòng chảy cả năm. Dưới tác động chiếm ưu thế của sóng hướng Đông Bắc cao trung bình 1,0 m và dòng triều biển, bùn cát dọc bờ bị vận chuyển thẳng vào bên trong cửa sông, tạo thành doi cát ngầm bồi lấp luồng chạy tàu.
Hệ thống hồ chứa thủy điện thượng nguồn ảnh hưởng như thế nào đến hạ du sông Ba?
Hệ thống 198 hồ chứa (đặc biệt là hồ Ba Hạ và Sông Hinh) đã giữ lại tới 90% lượng bùn cát lơ lửng, làm giảm 17% lưu lượng dòng kiệt 1 ngày tại trạm Củng Sơn. Sự thiếu hụt bùn cát mịn đổ về hạ lưu làm mất cân bằng trầm tích ven bờ, khiến các bãi bồi cửa sông bị xâm thực và xói lở sâu.
Sự kết hợp giữa mô hình HEC-RAS và MIKE 21/3 FM mang lại ưu điểm gì?
Mô hình 1D HEC-RAS mô phỏng hiệu quả thủy lực truyền lũ và vận chuyển cát dọc chiều dài lòng sông từ Củng Sơn về hạ lưu với chi phí tính toán thấp. Trong khi đó, mô hình 2D MIKE 21/3 FM xử lý chính xác trường dòng chảy xoáy, tác động tương hỗ giữa sóng - triều và vận chuyển bùn cát hai chiều tại vùng cửa sông mở.
Số liệu bồi xói tại 6 phân vùng cửa Đà Diễn biến động ra sao trong giai đoạn khảo sát?
Giai đoạn tháng 11/2015 đến tháng 3/2016, vùng ngoài cửa bờ Bắc bồi lắng mạnh nhất với 462.523,1 tấn (dày trung bình 0,22 m), bờ Nam ngoài cửa bồi 309.313,32 tấn. Riêng vùng luồng chạy tàu bị bồi cục bộ tại cửa đạt 1,71 m nhưng lại bị xói sâu cực đại -1,84 m tại vị trí nước sâu -8 m.
Giải pháp công trình nào được đánh giá tối ưu nhất để duy trì ổn định luồng tàu?
Giải pháp xây dựng hệ thống đê mỏ hàn kết hợp đê hướng dòng đôi bờ là tối ưu nhất. Công trình giúp định hình mặt cắt luồng cố định, ngăn chặn hoàn toàn cát trôi dọc bờ tràn vào lạch sâu, đồng thời tập trung năng lượng dòng lũ để tự xả bùn cát lắng đọng ra xa bờ biển.
Kết luận
- Xây dựng thành công bộ công cụ mô hình toán kết hợp 1D HEC-RAS và 2D MIKE 21/3 FM Coupled, mô phỏng chính xác trường dòng chảy, trường sóng và diễn biến bồi xói hạ lưu sông Ba.
- Định lượng rõ nét vai trò giữ lại khoảng 90% bùn cát của các hồ chứa thượng lưu, làm suy giảm dòng kiệt và gây mất cân bằng hình thái ven biển.
- Làm rõ quy luật biến động địa hình đáy tại 6 phân vùng cửa Đà Diễn với tổng khối lượng bồi tụ ngoài cửa vượt trên 770.000 tấn trong chu kỳ mùa đông.
- Đề xuất hệ thống giải pháp công trình đê hướng dòng kết hợp xả nước môi trường tối thiểu 45 m³/s từ thủy điện để bảo vệ an toàn luồng tàu.
- Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy hỗ trợ tỉnh Phú Yên quy hoạch bền vững không gian kinh tế biển và hạ tầng giao thông thủy.
Bước tiếp theo cần mở rộng mạng lưới quan trắc tự động định kỳ giai đoạn 2024 - 2026 và cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các cơ quan chuyên môn có thể tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ để khai thác chi tiết hệ thống bảng biểu, sơ đồ mặt cắt và bộ thông số thủy lực phục vụ công tác nghiên cứu và triển khai dự án thực tế.