CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận sử dụng đất bền vững 1. Khái niệm phát triển bền vững Khái niệm “Phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX. Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED, 1986), đã đề xuất “Chương trình tương lai của chúng ta”.
Sau đó, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và phát triển thế giới (1992), đã đưa ra “Chương trình nghị sự 21”. Hai chương trình này đều định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [21] [27]. Hội đồng Liên Hợp Quốc trong Hội nghị Rio de Janeiro về môi trường và phát triển (1992), có 182 nước tham gia đã thông qua bản tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển. Bản tuyên bố này đã đưa ra 27 nguyên tắc cho sự phát triển và bảo vệ môi trường.
Hội đồng Liên Hợp Quốc trong Hội nghị về phát triển bền vững (2002), đã thông qua bản tuyên bố “Johannesburg”. Trong bản tuyên bố này đã nêu, phát triển bền vững là có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống) [26]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững a.
Theo quan điểm sinh thái Trước hết cần hiểu rõ khái niệm hệ sinh thái. Có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ sinh thái. Ehrlich và Roughgarden (1987) cho rằng hệ sinh thái là “mối quan hệ giữa các tổ chức và môi trường sinh học và vật chất của chúng” [19]. Như vậy, sinh thái đề cập đến tính chất tự nhiên, vốn có của một hệ thống cân bằng giữa các yếu tố sự sống và môi trường tự nhiên tồn tại trên trái đất của chúng ta.
Nông nghiệp sinh thái nghiên cứu và đánh giá hệ thống nông nghiệp từ ba khía cạnh sinh thái, kinh tế và xã hội để nhằm đạt được ba mục tiêu: môi trường (trong sạch, không ô nhiễm), kinh tế (năng suất - chất lượng - hiệu quả) và xã hội (xoá đói giảm nghèo - tạo việc làm - công bằng xã hội). Để đạt được các mục tiêu trên, nông nghiệp sinh thái dựa vào nền tảng khoa học của sự phát triển bền vững trong đó sự tương tác giữa các yếu tố trong hệ thống của nó hướng tới việc duy trì mối quan hệ cân bằng, bền vững của các yếu tố trong hệ sinh thái bao gồm những cơ thể sống của con người, cây trồng, vật nuôi và các yếu tố môi trường tự nhiên như đất đai, thời tiết, khí hậu, nước, năng lượng… Sử dụng đất theo quan điểm sinh thái phát triển lâu bền là cơ sở vật chất tất yếu của sản xuất nông nghiệp bền vững cho mọi quốc gia. Nền nông nghiệp sinh thái học là một nền nông nghiệp không loại trừ phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh trưởng… mà sử dụng chúng một cách hợp lý hơn, có hiệu quả hơn, tránh ô nhiễm môi trường. Phải biết chắt lọc, phát huy thế mạnh, tính ưu việt của từng nền nông nghiệp và kiên quyết loại bỏ những tồn tại của chúng.
Nền nông nghiệp sinh thái phải tuân thủ theo các nguyên tắc: Không phá hoại môi trường, đảm bảo năng suất ổn định, đảm bảo khả năng thực thi, không phụ thuộc vào bên ngoài, ít phụ thuộc vào hàng nhập ngoại. Theo quan điểm phát triển bền vững Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống nông nghiệp bền 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng của con người mà không làm suy thoái đất, không làm ô nhiễm môi trường trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên. Nhóm tư vấn về nghiên cứu nông nghiệp quốc tế TAC/CGIAR (1989), cho rằng “Nông nghiệp bền vững là sự quản lý thành công nguồn nhân lực cho nông nghiệp, để thỏa mãn các nhu cầu thay đổi của con người, trong khi vẫn giữ vững hoặc nâng cao được chất lượng môi trường và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên” [25]. Theo nghiên cứu nông nghiệp Hội nghị ở New Delhi Ấn Độ về quản lý nông nghiệp bền vững (Baier, 1990), “Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống có hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn, cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường sống cho đời sau” [15].
Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998) [7] việc sử dụng đất bền vững dựa trên các nguyên tắc: Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất; Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất; Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, chống lại sự thoái hóa chất lượng đất và nước; Khả thi về mặt kinh tế; Được xã hội chấp nhận và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau : - Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận. - Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn thoái hóa đất, bảo vệ môi trường tự nhiên. - Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp con người diễn ra hết sức đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm về sử dụng đất bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người.
Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật. Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững 1.Khái niệm và nguyên tắc đánh giá đất Theo FAO đã định nghĩa đánh giá đất đai (1976) như sau: Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng đất đai yêu cầu phải có. Đánh giá đất đai là quá trình thu thập thông tin, xem xét toàn diện các đặc điểm đất đai để đánh giá mức độ thích nghi cao hay thấp với các loại sử dụng đất, phục vụ tốt cho việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi thích hợp. Đánh giá đất đai là bước cơ sở để đưa ra những thông tin cần thiết phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất [19].
- Yêu cầu sử dụng đất đai (Land Use Requirement - LUR) Yêu cầu sử dụng đất đai là những điều kiện của đất đai cần thiết cho việc thực hiện thành công và bền vững đối với một loại hình sử dụng đất (LUT). Những yêu cầu sử dụng đất có thể là: Yêu cầu quản lí (Management requirements), yêu cầu phòng hộ (Conservation requirements) và yêu cầu sản xuất (Growth requirements). Yêu cầu sử dụng đất đai thường được thể hiện qua các cấp: + Đơn vị sử dụng đất đai (Land Use Unit) Đơn vị sử dụng đất đai là yêu cầu về sự đồng nhất của các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cây trồng, đến sự bền vững của hiệu suất canh tác. Đó là độ dốc, độ dày tầng đất và được xác định trên một kiểu địa hình và một chế độ khí hậu.
+ Loại hình sử dụng đất đai (Land Utilization Type LUT) 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Loại hình sử dụng đất đai là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lí sản xuất trong các điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội và kĩ thuật được xác định. Đó là sự nhóm gộp các đơn vị sử dụng đất đai giống nhau. Các thuộc tính của LUT gồm: sản phẩm, lợi ích, định hướng thị trường, kiến thức kỹ thuật, trình độ sử dụng đất,. Trong sản xuất nông, lâm nghiệp, LUT được hiểu khái quát là những hình thức sử dụng đất đai để sản xuất một hoặc một nhóm cây trồng, vật nuôi trong chu kỳ một hoặc nhiều năm.
Trong đánh giá đất đai, đất đai là nền, loại hình sử dụng đất đai là đối tượng để đánh giá, phân hạng mức độ thích hợp của đất đai. + Khả năng đất đai (Land Capability) Để phân cấp các yếu tố đất đai theo các mức độ thích hợp, cần vận dụng phương pháp phân loại khả năng đất đai dựa trên 2 đặc tính: Khả năng và hạn chế của đất đai. Khả năng (Capability) là tiềm năng (pontential) của đất đai đối với các loại hình sử dụng đất đai. Hạn chế (Limitation) là các đặc điểm của đất đai gây trở ngại cho việc sử dụng đất.
Hạn chế của đất đai gồm: 1. Hạn chế lâu dài (Permanent Limitations): không chuyển đổi được bằng các cải tạo nhỏ, ví dụ: độ dốc lớn, tầng đất mỏng, khí hậu khắc nghiệt. Hạn chế tạm thời (Temporary Limitations): có thể cải tạo được bằng các biện pháp chăm sóc, quản lý, ví dụ: hàm lượng dinh dưỡng, khả năng điều tiết nước. Đất đai được phân loại dựa trên cơ sở những hạn chế lâu dài khó khắc phục của đất: độ dốc, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, tính thấm, xói mòn quá khứ, độ đá lẫn, tính chất tầng giới hạn, mức độ phèn mặn.