Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Cao Bằng sở hữu diện tích tự nhiên 670.342,26 ha, trong đó tiềm năng đất lâm nghiệp chiếm tới 526.970,45 ha (tương đương 78,61% tổng diện tích toàn tỉnh). Nằm tại vị trí nóc nhà phía Tây của tỉnh, Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén được thành lập theo Quyết định số 194/CT ngày 09 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng với tổng diện tích tự nhiên 29.290,3 ha, bao gồm đỉnh núi Phia Oắc cao 1.931 m. Đây là khu vực lưu giữ hệ sinh thái rừng á nhiệt đới trên núi đá vôi và núi đất độc đáo, đóng vai trò xung yếu trong việc điều tiết nguồn nước cho hệ thống sông Nhiên, sông Năng, sông Thể Dục cũng như bảo vệ môi trường trước nguy cơ rửa trôi, xói mòn và biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, trải qua nhiều thập kỷ, đa dạng sinh học tại khu bảo tồn đang đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng về cấu trúc và chất lượng. Dù diện tích đất rừng đặc dụng đạt 10.269 ha với 98,1% là rừng tự nhiên, nhưng phần lớn lại là rừng phục hồi (chiếm 68,5%) và rừng nghèo (chiếm 4,7%), trong khi đất chưa có rừng vẫn chiếm tới 19,6% diện tích tự nhiên. Áp lực dân sinh từ 9.261 nhân khẩu (1.676 hộ gia đình) phân bố tại 39 thôn xóm, cùng tình trạng khai thác khoáng sản kim loại màu tại Tĩnh Túc và săn bắt động vật hoang dã trái phép đã đe dọa trực tiếp các loài nguy cấp. Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá hiện trạng tài nguyên thực vật, động vật, phân tích thực trạng công tác quản lý và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2018-2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học bảo tồn và khung pháp lý của Công ước Đa dạng sinh học (CBD 1992) cùng Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12. Nghiên cứu tiếp cận đa dạng sinh học qua 3 cấp độ căn bản: đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Đồng thời, tác giả vận dụng hệ thống phân hạng khu bảo tồn của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN 1994) với 6 phân hạng chuẩn mực quốc tế, làm rõ sự khác biệt giữa khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt, vườn quốc gia và khu bảo tồn loài - sinh cảnh.

Bên cạnh đó, mô hình Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value - TEV) được tích hợp để nhận diện cấu trúc giá trị của khu bảo tồn. Mô hình này bao quát toàn diện nhóm giá trị sử dụng (sử dụng trực tiếp từ du lịch, dược liệu; sử dụng gián tiếp từ chức năng điều hòa khí hậu, hấp thụ carbon; giá trị lựa chọn trong tương lai) và nhóm giá trị không sử dụng (giá trị kế thừa cho thế hệ sau và giá trị tồn tại nội tại của sinh cảnh). Các khái niệm then chốt như bảo tồn tại chỗ (in-situ), bảo tồn chuyển vị (ex-situ), phân khu chức năng rừng đặc dụng và quy hoạch vùng đệm được hệ thống hóa chặt chẽ theo Nghị định 117/2010/NĐ-CP và Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2020 theo Quyết định 1250/2012/QĐ-TTg.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo hiện trạng rừng năm 2012 của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Đông Bắc Bộ, số liệu khí tượng thủy văn huyện Nguyên Bình với lượng mưa bình quân 1.592 mm/năm, và niên giám thống kê giai đoạn 2001-2011. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các đợt khảo sát thực địa sinh thái và điều tra xã hội học.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định bao gồm khảo sát thực địa trên toàn bộ 6 xã và thị trấn trực thuộc khu bảo tồn (Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh, Vũ Nông, Hưng Đạo, Tĩnh Túc) với 120 phiếu điều tra phỏng vấn hộ gia đình được chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đại diện cho 1.676 hộ dân trong khu vực. Về thảm thực vật, phương pháp điều tra theo tuyến và lập 30 ô tiêu chuẩn định lượng (diện tích 500 m2 mỗi ô) được phân bổ theo 2 đai độ cao chính: đai núi thấp dưới 700 m và đai núi trung bình từ 700 m đến 1.931 m. Lý do lựa chọn phương pháp phân tầng kết hợp ô tiêu chuẩn và phân tích thống kê đa biến là nhằm phản ánh chính xác tính phân hóa sinh thái phức tạp của địa hình núi cao chia cắt mạnh với độ dốc trung bình 25-30 độ. Toàn bộ quá trình thu thập, xử lý và tổng hợp dữ liệu thực nghiệm được thực hiện xuyên suốt từ năm 2013 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cấu trúc quỹ đất lâm nghiệp tại khu bảo tồn ghi nhận tổng diện tích tự nhiên là 29.290,3 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 25.760,4 ha. Riêng diện tích quy hoạch rừng đặc dụng đạt 10.269 ha với tỷ lệ rừng tự nhiên chiếm 98,1%, rừng trồng chỉ chiếm 1,9%. Đáng chú ý, cấu trúc rừng tự nhiên có sự suy giảm về chất lượng khi rừng phục hồi chiếm tỷ trọng áp đảo với 68,5%, rừng trung bình chiếm 13,5%, rừng nghèo chiếm 4,7%, và diện tích đất chưa có rừng còn lại lên tới 2.013,2 ha (tương đương 19,6% diện tích phân khu).

Thứ hai, trữ lượng tài nguyên rừng đạt mức 436.351 m3 gỗ và 2.454 nghìn cây tre nứa. Rừng tự nhiên đóng góp 428.040 m3 gỗ (chiếm 98,1% tổng trữ lượng toàn vùng), tập trung lớn nhất tại rừng gỗ lá rộng phục hồi với 152.591 m3 và rừng trung bình với 82.369 m3. Ngược lại, diện tích rừng trồng chỉ đóng góp 8.311 m3 gỗ.

Thứ ba, áp lực sinh kế từ cộng đồng địa phương là một rào cản lớn đối với bảo tồn. Tổng dân số trong khu bảo tồn và vùng đệm là 9.261 người với 1.676 hộ, trong đó có tới 1.317 người (280 hộ) sinh sống trực tiếp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Cơ cấu dân tộc gồm người Dao chiếm 47,2%, Nùng chiếm 20,3%, Kinh chiếm 17,8%, Tày chiếm 13,8% và H'Mông chiếm 0,9%. Hoạt động kinh tế phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp với tỷ trọng trồng trọt chiếm tới 81,1% giá trị sản xuất năm 2010.

Thứ tư, các nguy cơ xâm hại sinh thái diễn biến phức tạp. Hoạt động khai thác khoáng sản chì, kẽm, antimon và mỏ thiếc Tĩnh Túc đã làm bóc mòn tầng phủ thực vật, gia tăng nguy cơ sạt lở đất trong mùa mưa (thời điểm chiếm 85,4% lượng mưa cả năm).

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu được minh họa trực quan thông qua bảng cơ cấu trữ lượng gỗ phân theo xã và biểu đồ tương quan sinh thái giữa đai cao địa hình với sự phân bố thảm thực vật. Các dữ liệu cho thấy sự suy thoái trữ lượng bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính: điều kiện tự nhiên khắc nghiệt tại đai cao trên 700 m với nhiệt độ mùa đông có thể hạ xuống âm 2 độ C kèm sương muối, và tác động khai thác lâm sản quá mức từ 280 hộ vùng lõi do thiếu hụt sinh kế thay thế.

Khi so sánh với thực trạng tại Vườn quốc gia Bến Én (nơi có 16.000 ha và phục hồi thành công 2.006 ha rừng tự nhiên) hoặc Vườn quốc gia Cúc Phương (đã thực hiện di dời dân cư vùng lõi từ năm 1987), Khu bảo tồn Phia Oắc - Phia Đén bộc lộ sự chậm trễ trong công tác quy hoạch ranh giới và phân định quyền lợi cộng đồng. Tỷ lệ dân cư sống xen kẽ cao kết hợp với 2.013,2 ha đất trống đòi hỏi phải chuyển dịch mô hình quản lý từ bảo vệ nghiêm ngặt đơn thuần sang bảo tồn có sự tham gia của người dân bản địa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn ranh giới và tăng cường thực thi pháp luật lâm nghiệp. Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Nguyên Bình và Ủy ban nhân dân 6 xã tiến hành cắm mốc ranh giới rõ ràng trên thực địa cho 10.269 ha rừng đặc dụng; thiết lập 06 trạm kiểm soát cố định tại các cửa rừng trọng điểm nhằm giảm 100% các vụ chặt phá và săn bắt động vật hoang dã trái phép giai đoạn 2019-2023.

Thứ hai, đẩy mạnh khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng phê duyệt dự án lâm nghiệp phục hồi 2.013,2 ha đất chưa có rừng, kết hợp trồng bổ sung các loài cây bản địa như tông dù, dẻ đỏ, thông, sa mộc với mật độ 500-600 cây/ha, phấn đấu nâng độ che phủ rừng của khu bảo tồn lên trên 85% vào năm 2025.

Thứ ba, thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và giao khoán bảo vệ rừng. Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng ban hành cơ chế giao khoán quản lý bảo vệ rừng đặc dụng cho 1.676 hộ dân vùng lõi và vùng đệm với mức hỗ trợ tối thiểu 400.000 đồng/ha/năm, ưu tiên 280 hộ sinh sống trong phân khu nghiêm ngặt để tạo nguồn thu ổn định giai đoạn 2019-2024.

Thứ tư, chuyển đổi sinh kế bền vững và phát triển du lịch sinh thái. Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình chủ trì đề án phát triển nông - lâm kết hợp, hỗ trợ đồng bào dân tộc Dao (chiếm 47,2% dân số) và dân tộc Nùng trồng cây đặc sản như chè đắng, quế, hồi; đồng thời quy hoạch khai thác tuyến du lịch sinh thái đèo Colia lên đỉnh Phia Oắc cao 1.931 m gắn với 03 di tích lịch sử cấp tỉnh nhằm tạo việc làm phi nông nghiệp cho ít nhất 500 lao động địa phương đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng và Ban Quản lý các khu rừng đặc dụng có thể ứng dụng trực tiếp cơ sở dữ liệu về 10.269 ha rừng đặc dụng và khung giải pháp quy hoạch vùng đệm 29.290,3 ha để hoàn thiện chính sách lâm nghiệp địa phương.

Thứ hai, các viện nghiên cứu, trường đại học và học viên chuyên ngành Môi trường, Lâm học, Sinh thái học: Luận văn cung cấp tài liệu tham khảo giá trị về cấu trúc thảm thực vật á nhiệt đới trên núi cao, phương pháp tính toán trữ lượng 436.351 m3 gỗ và quy trình đánh giá sinh thái học thực địa.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế: Các chuyên gia của IUCN, WWF hoặc các dự án bảo tồn nguồn gen có thể sử dụng dữ liệu nhân khẩu học của 9.261 cư dân cùng các chỉ số áp lực sinh kế để xây dựng dự án hỗ trợ phát triển cộng đồng gắn với bảo tồn loài.

Thứ tư, chính quyền địa phương cấp huyện và xã thuộc vùng đệm: Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình và ban lãnh đạo 6 xã trực thuộc có thể tham khảo mô hình chuyển đổi cây trồng và định hướng du lịch sinh thái đèo Colia - Phia Oắc để thúc đẩy kinh tế bền vững cho 1.676 hộ dân bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Hệ sinh thái rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén có đặc trưng nổi bật nào? Khu bảo tồn mang nét đặc trưng của rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình và cao trên độ cao từ 700 m đến đỉnh 1.931 m. Nơi đây chứa đựng 436.351 m3 trữ lượng gỗ và là điểm giao thoa giữa các luồng thực vật bản địa nhiệt đới với luồng di cư từ vùng núi Himalaya - Vân Nam.

Thực trạng phân bố dân cư tạo ra áp lực gì đối với công tác bảo vệ rừng? Toàn khu vực có 9.261 nhân khẩu (1.676 hộ gia đình), trong đó 280 hộ sinh sống ngay trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Áp lực sinh kế từ phương thức canh tác nông nghiệp chiếm 81,1% giá trị sản xuất và thói quen thu hái lâm sản làm chậm tiến trình phục hồi của 2.013,2 ha đất chưa có rừng.

Mô hình Tổng giá trị kinh tế (TEV) đóng vai trò gì trong quản lý khu bảo tồn? Mô hình TEV giúp định lượng hóa các giá trị vô hình nhưng thiết yếu như dịch vụ điều tiết nguồn nước đầu nguồn cho 3 dòng sông chính, năng lực hấp thụ carbon và giá trị cảnh quan du lịch sinh thái, làm cơ sở khoa học để thiết lập chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Luận văn sử dụng phương pháp nào để thu thập dữ liệu đa dạng sinh học? Tác giả phối hợp khảo sát số liệu thứ cấp quy hoạch trên 29.290,3 ha với điều tra sơ cấp thực địa theo tuyến đai cao từ 300 m đến 1.931 m, thiết lập 30 ô tiêu chuẩn định lượng 500 m2 và phỏng vấn bảng hỏi cấu trúc đối với 120 hộ gia đình bản địa.

Giải pháp then chốt nào giúp cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế? Giải pháp trọng tâm là giao khoán bảo vệ 10.269 ha rừng đặc dụng đi kèm chi trả dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng dân tộc bản địa (người Dao chiếm 47,2%), kết hợp phát triển du lịch sinh thái đèo Colia và canh tác cây dược liệu đặc sản dưới tán rừng giai đoạn 2019-2025.

Kết luận

  • Xác lập bộ cơ sở dữ liệu khoa học chuẩn xác về 29.290,3 ha diện tích tự nhiên, 10.269 ha đất rừng đặc dụng và 436.351 m3 trữ lượng gỗ tại khu bảo tồn.
  • Nhận diện toàn diện thực trạng 98,1% rừng tự nhiên với 68,5% là rừng phục hồi, làm rõ nguyên nhân suy giảm do áp lực sinh kế từ 9.261 nhân khẩu.
  • Ứng dụng thành công khung lý thuyết IUCN và mô hình Tổng giá trị kinh tế (TEV) để lượng hóa các giá trị sinh thái xung yếu.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về cơ chế chính sách, kỹ thuật khoanh nuôi 2.013,2 ha đất trống và chuyển đổi sinh kế cộng đồng.
  • Khẳng định lộ trình quản trị bền vững giai đoạn 2019-2025 gắn liền giữa bảo tồn nguyên vị với phát triển du lịch sinh thái đèo Colia - Phia Oắc 1.931 m.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng trong việc quản lý và phát triển bền vững rừng đặc dụng. Độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hãy tham khảo toàn văn công trình để ứng dụng mô hình bảo tồn gắn với cộng đồng vào thực tiễn quản lý tài nguyên thiên nhiên.