MỞ ĐẦU Đa dạng sinh học có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của toàn thế giới. Đây là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, dược liệu, vật liệu… Các hệ sinh thái đóng vai trò quan trọng trong điều tiết khí hậu và bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên sinh vật phong phú chứa đựng trong nó đã mang lại những lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế. Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội, sự sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học ngày càng gia tăng vàvấn đề quản lý tài nguyên sinh học còn nhiều hạn chế đã làm cho đa dạng sinh học (ĐDSH) bị suy giảm với tốc độ cao và trở nên nghiêm trọng. Nhiều loài động vật và thực vật bị đe dọa, có nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý[18].
Do đó, việc đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học làm cơ sở quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học là thực sự cần thiết và cấp bách. Cao Bằng có tổng diện tích tự nhiên 670.342,26 ha, trong đó tiềm năng rừng và đất rừng rất lớn với 526.970,45 ha; chiếm 78,61% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh. Theo các tài liệu điều tra hiện có về đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh cho thấy Cao Bằng là tỉnh có tính đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên, ĐDSH trên địa bàn tỉnh đã và đang bị suy giảm đáng kể cả về chất lượng và số lượng [35].
Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén thuộc địa phận các xã Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh, Vũ Nông, Hưng Đạo và thị trấn Tĩnh Túc, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Khu bảo tồn thiên nhiên này được thành lập theo Quyết định số 194/CT ngày 09 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc Quy định các khu rừng cấm. Nổi tiếng với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, nơi đây còn lưu giữ nhiều loài động, thực vật quý, hiếm rất có giá trị về nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen và giáo dục môi trường. Bên cạnh đó, Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén còn được coi như “lá phổi xanh”, là nóc nhà phía Tây của tỉnh Cao Bằng, có tác dụng to lớn trong việc điều hòa khí hậu, hấp thụ các bon, điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất đai chống xói mòn, rửa trôi, sạt lở đất, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững trong khu vực.
Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài từ năm 1986 cho đến nay, tình trạng chặt phá rừng diễn ra ngày một mạnh hơn, đa dạng sinh học đã và đang bị suy giảm cả 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về số và chất lượng, nhiều loài động, thực vật quý hiếm, đặc hữu đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Rừng trở nên nghèo về trữ lượng và tổ thành thực vật, khu hệ động vật đã bị xâm hại một cách nghiêm trọng. Các loài thú lớn, các loài động vật đặc hữu ngày một cạn kiệt [2]. Từ thực tế đó tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài: “Đánh giá đa dạng sinh học và đề xuất các giải pháp quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”.
Kết quả của đề tàisẽ cung cấp cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học góp phần quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật ở khu vực nghiên cứu. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. Tổng quan về khu bảo tồn thiên nhiên 1. Khái niệm khu bảo tồn thiên nhiên Theo luật đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008: “Khu bảo tồn thiên nhiên là khu vực địa lý được xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn đa dạng sinh học” [23].
Định nghĩa của IUCN khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của khu BTTN: “Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” [18]. Công ước ĐDSH (1992) xác định các khu BTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học “tại chỗ”. Tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của Công ước có các mục (a), (b) và (c) qui định rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống khu BTTN, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các khu BTTN, và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các khu BTTN để đảm bảo bảo tồn và sử dụng bền vững [18]. Hệ thống phân hạng quốc tế khu bảo tồn thiên nhiên theo IUCN Trong quá trình hình thành và phát triển các khu BTTN, ban đầu mỗi quốc gia có cách tiếp cận riêng, không có các tiêu chuẩn hoặc thuật ngữ chung gây trở ngại cho việc chia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm về khu BTTN trong phạm vi khu vực và toàn cầu.
Vì vậy, năm 1933, những nỗ lực đầu tiên nhằm làm rõ các thuật ngữ và phân hạng các khu BTTN đã được ghi nhận. Đến năm 1978, hệ thống phân hạng quốc tế khu BTTN đầu tiên được IUCN xây dựng và công bố gọi là Hệ thống phân hạng 1978. Hệ thống này đã được sử dụng tương đối rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới và trong các hoạt động quốc tế. Hệ thống phân hạng 1978 gồm 10 phân hạng như sau [18]: - Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/nghiên cứu khoa học (Scientific Research/Strict nature reserve); 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Vườn quốc gia (National park); - Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên (National monument/Natural landmark); - Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên/Bảo tồn đời sống hoang dã (Nature conservation reserve/Managed nature reserve/wildlife sanctuary); - Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/cảnh quan biển (Protected landscape/Seascape); - Khu dự trữ tài nguyên (Resource reserve); - Khu dự trữ thiên nhiên/nhân chủng học (Nature biotic area/Anthropological reserve); - Khu quản lý sử dụng đa mục đích (Multiple use management area/Managed resource area); - Khu dự trữ sinh quyển (Biosphere reserve); - Khu di sản thiên nhiên thế giới (World natural heritage site).
Tuy nhiên, ngay sau đó hệ thống phân hạng 1978 đã bộc lộ một số thiếu sót. Hệ thống phân hạng khu BTTN quốc tế của IUCN hiện hành được công bố năm 1994, trên cơ sở cập nhật Hệ thống phân hạng 1978 với 6 phân hạng như sau: - Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/Khu bảo vệ hoang dã (Strict nature reserve/Wildeness area); - Khu dự trữ thiên nhiên (Strict nature reserve); - Khu bảo vệ hoang dã (Wildeness area); - Vườn quốc gia (National park); - Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên (National monument/Natural landmark); - Khu bảo tồn loài/Sinh cảnh (Habitat/Species management area); - Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/biển (Protected landscape/Seascape); - Khu bảo tồn kết hợp sử dụng bền vững tài nguyên (Managed resource protected area). Mục tiêu quản lý các khu BTTN rất đa dạng, trong đó có các mục tiêu sau: - Nghiên cứu khoa học; - Bảo vệ đời sống hoang dã; - Bảo vệ đa dạng loài và nguồn gen; - Duy trì các dịch vụ môi trường; 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Bảo vệ các đặc điểm tự nhiên và văn hóa; - Du lịch và nghỉ dưỡng; - Giáo dục; - Sử dụng bền vững tài nguyên của hệ sinh thái tự nhiên; - Gìn giữ các bản sắc văn hóa và truyền thống. Khu bảo tồn thiên nhiên trên thế giới và Việt Nam Hiện nay, trên thế giới có hơn 100.000 khu BTTN [5] chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới.
Trong vài thập kỷ qua, các khu BTTN trên thế giới đang có xu hướng tăng cả về số lượng và diện tích. Vườn quốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu bảo tồn loài và sinh cảnh. Các khu BTTN đóng vai trò chủ chốt trong bảo tồn ĐDSH và đáp ứng các mục tiêu đa dạng của cộng đồng. Tại Việt Nam, trải qua hơn bốn thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống khu BTTN của nước ta gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị ĐDSH tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển [5].
Từ năm 1962, Chính phủ Việt Nam đã Quyết định thành lập Khu rừng cấm Cúc Phương là khu đầu tiên có chức năng bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên và là tiền thân của hệ thống khu BTTN hiện nay. Năm 1965, Ở miền Nam đã quyết định thành lập 10 khu bảo vệ, nhưng trên thực tế thành lập được 7 KBT với diện tích 753. Năm 1977, hai năm sau khi thống nhất đất nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 41/QĐ-TTg thành lập thêm 10 khu rừng cấm với tổng diện tích 44. Năm 1986, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tiếp 73 khu rừng đặc dụng bao gồm: 2 Vườn quốc gia, 46 khu bảo tồn thiên nhiên và 25 khu rừng văn hoá, lịch sử, với tổng diện tích 769.
Đến nay, cả nước đã thành lập được 164 khu RĐD với tổng diện tích 2.744 ha, chiếm hơn 7,2% diện tích tự nhiên trên đất liền, trong đó có 30 Vườn Quốc gia (1.236 ha), 58 khu dự trữ thiên nhiên (1.959 ha), 11 khu bảo tồn loài-sinh cảnh (38.777 ha), 45 khu bảo vệ cảnh quan (78.129 ha), 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học (10. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày 26 tháng 5 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 742/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch hệ thống 16 KBTB Việt Nam đến năm 2020, chiếm diện tích 270.271 ha bằng 0,24% diện tích vùng biển Việt Nam. Trong hệ thống KBTB mới chỉ có 05 khu thành lập Ban quản lý, có 06 khu liên quan đến đến RĐD. Các KBTB được phân thành 03 hạng: Vườn quốc gia biển (6 khu), Khu bảo tồn loài và sinh cảnh (5 khu) và Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh (5 khu).
Tại Quyết định số 1479/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch hệ thống KBT vùng nước nội địa đến năm 2020 với 45 khu.