CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nghiên cứu về cảnh quan và hướng tiếp cận sinh thái cảnh quan 1. Các nghiên cứu về sinh thái học và HST Sinh thái học là một khoa học cơ bản trong sinh học, nghiên cứu các mối quan hệ thống nhất giữa sinh vật với môi trường. Như Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, X.
Chvartxh (1975) đã viết “Sinh thái học là khoa học về đời sống của tự nhiên. Nếu sinh thái học đã xuất hiện cách đây hơn 100 năm như một khoa học về mối tương tác giữa cơ thể và môi trường thì ngày nay nó trở thành một khoa học về cấu trúc của tự nhiên, khoa học về cái mà sự sống bao phủ trên hành tinh đang hoạt động trong sự toàn vẹn của mình” [42]. Sinh thái học đã trở thành một chuyên ngành khoa học giúp chúng ta ngày càng hiểu biết sâu về bản chất của sự sống trong mối tương tác với các yếu tố môi trường. Ngày nay, khi áp lực dân số gia tăng, nhu cầu đời sống và trình độ khoa học - công nghệ ngày một cao, con người ngày càng can thiệp sâu vào các quá trình tự nhiên thì sinh thái học đang phải tập trung mọi cố gắng của mình vào việc nghiên cứu và giải quyết những hậu quả do con người gây ra, nhằm thiết lập lại mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
Do đó, sinh thái học không chỉ là nhu cầu của nhận thức mà trở thành những nguyên tắc, nền tảng khoa học cho chiến lược phát triển bền vững của xã hội loài người [42]. Thuật ngữ sinh thái học hình thành giữa thế kỷ 19 ban đầu thuật ngữ này chỉ đề cập đến sinh thái học cá thể. Đầu thế kỷ 20, sinh thái học chuyển sang nghiên cứu sinh thái học quần thể và quần xã sinh vật. Khái niệm HST lần đầu được đề cập bởi nhà sinh thái học A.
Tansley (1935) đó là “một tập hợp các sinh vật sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) và môi trường vô cơ nơi chúng sinh sống (không khí, đất, nước và khí hậu)”, sau đó các nhà sinh thái học người Mỹ như Linderman (1942), Odum (1971), Whittaker (1975) đã kế thừa phát triển. Hệ sinh thái được coi là đơn vị cấu trúc cơ sở là bước tiến quan trọng của sinh thái học. Khái niệm hệ sinh thái 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố vô sinh và yếu tố hữu sinh, là cơ sở để hình thành khái niệm “sinh thái cảnh quan” (landscape ecology). Các nghiên cứu của Holling (1992) đã kết luận: mọi HST đều được điều khiển và tổ chức bởi các loài sinh vật ưu thế và quá trình vô sinh đặc thù để tạo thành cấu trúc CQ ở các tỉ lệ khác nhau [45].
Các nghiên cứu sinh thái học và HST cho thấy nhược điểm của tiếp cận nghiên cứu HST là không xác định được thứ bậc về không gian của lãnh thổ nghiên cứu, do đó có thể bao trùm lên không gian bất kỳ từ HST từ nhỏ tới lớn như: HST hang động, HST rừng, HST vũ trụ. Đó chính là lý do mà các nhà sinh thái học rất quan tâm đến cách tiếp cận không gian của địa lý học với hệ thống phân vị chặt chẽ, có ý nghĩa thực tiễn rất cao trong nghiên cứu sinh thái học. Bên cạnh đó, các nhà cảnh quan học đã “sinh thái hóa cảnh quan” để định lượng hóa các chỉ tiêu về trao đổi vật chất, trao đổi năng lượng trong cảnh quan. Sự hội tụ của cảnh quan và sinh thái học đã thể hiện quy luật nhân quả của tự nhiên, của sự tương tác giữa giới vô cơ và giới hữu cơ [18] [32] [60].
Các nghiên cứu cảnh quan học Khái niệm cảnh quan được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 ở Nga, Đức, Mỹ và Pháp. Các công trình nghiên cứu về cảnh quan đầu tiên phải kể đến công trình của V. Docutraev có quan điểm nghiên cứu phải được thực hiện trong sự thống nhất, toàn vẹn không thể tách rời của tất cả các điều kiện tự nhiên và ông cũng cho rằng thổ nhưỡng là hàm số của tất cả các yếu tố địa lý khác như: kiểu nham thạch, khí hậu, sinh vật. Berg đã phát triển quan điểm trên và đưa ra khái niệm “cảnh quan địa lý là một tập hợp hay một nhóm các sự vật, hiện tượng, trong đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước đất, lớp phủ thực vật và giới động vật cũng như hoạt động của con người hòa trộn với nhau vào một thể thống nhất hòa hợp, lặp lại một cách điển hình trên một đới nhất định nào đó của Trái đất” và ra mắt công trình phân vùng cho toàn nước Nga, ông gọi là các đới cảnh quan.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, cảnh quan học mới thực sự phát triển và tìm được chỗ đứng, khi đó cảnh quan được xác định như một “đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới”. Các nhà địa lý Xô Viết đã có những đóng góp to lớn vào việc hoàn thiện và phát triển lý thuyết, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cảnh quan. Ở Việt Nam, nghiên cứu về cảnh quan học chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận của trường phái Nga - Xô Viết, cùng thống nhất ba quan niệm về cảnh quan để chỉ các hình thức cảnh quan khác nhau phụ thuộc vào quan niệm của người nghiên cứu, trong đó: Quan niệm chung: Cảnh quan được hiểu như một khái niệm chung, tương tự như các khái niệm: địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng,. đồng nghĩa với khái niệm địa tổng thể các cấp.
Những nhà khoa học đi theo quan niệm này là F. Tuy nhiên, quan niệm này thường được dùng cho các công trình chung nghiên cứu về môi trường tự nhiên hoặc nghiên cứu về dạng sử dụng đất rất cụ thể như cho các vườn bảo vệ tự nhiên, cho phát triển một số giống, loài nào đó. Quan niệm này không giới hạn rõ rệt về lãnh thổ, không theo trật tự logic nào [18]. Quan niệm kiểu loại: Cảnh quan là đơn vị cơ sở, là cấp phân vị, đơn vị phân loại trong hệ thống phân chia các thể tổng hợp địa lý tự nhiên lãnh thổ.
Mỗi cấp phân chia phải dựa trên các chỉ tiêu đặc trưng và có cấu trúc hình thái riêng từ trên xuống hoặc từ dưới lên. Tuy nhiên, theo quan niệm này cần xét đến sự phân hóa của các đơn vị cảnh quan đều chịu ảnh hưởng của quy luật địa đới và phi địa đới (A. Quan niệm này thường thấy ở các công trình của đa số các tác giả nghiên cứu lập bản đồ cảnh quan phục vụ thực tiễn với tỉ lệ lớn và trung bình cho các cảnh quan bị biến đổi bởi các hoạt động của con người như các tác giả: A. Theo quan niệm kiểu loại, đã có nhiều hệ thống phân loại cảnh quan của các tác giả trong và ngoài nước được đề xuất.
Như hệ thống phân vị cảnh quan của Nhikolaev (1979) gồm các bậc như sau: thống - hệ - phụ hệ - nhóm - kiểu - phụ kiểu - hạng - phụ hạng - loại - phụ loại. Phạm Quang Anh (1985) đã đưa ra hệ thống 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân vị cảnh quan dựa trên cơ sở hệ thống phân vị cảnh quan trên và có điều chỉnh phù hợp với điều kiện Việt Nam gồm 5 bậc: hệ - phụ hệ - lớp - phụ lớp - kiểu [5]. Viện Địa lý đã công bố cuốn sách “Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỉ lệ trên lãnh thổ Việt Nam” năm 1993. Trong đó, hệ thống phân loại cảnh quan Việt Nam gồm các cấp: Hệ - phụ hệ - lớp - phụ lớp - kiểu - phụ kiểu - hạng - loại cảnh quan, các đơn vị cấu trúc hình thái cảnh quan: Dạng địa lý - nhóm dạng - diện địa lý - nhóm diện.
Mỗi cấp đều có nội dung và chỉ tiêu phân chia cụ thể nhưng các cấp “phụ” không nhất thiết phải phân chia trong mọi trường hợp [35]. Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1997) đã xây dựng bảng “Hệ thống các chỉ tiêu phân loại cảnh quan cảnh quan áp dụng cho bản đồ cảnh quan Việt Nam tỉ lệ 1:1.000”, hệ thống này bao gồm các cấp: Hệ thống cảnh quan - phụ hệ thống cảnh quan - lớp cảnh quan - phụ lớp cảnh quan - kiểu cảnh quan - phụ kiểu cảnh quan - loại (nhóm) cảnh quan. Đơn vị nhỏ hơn cảnh quan trong thứ tự phân loại đó là dạng cảnh quan và diện cảnh quan. Các tác giả nghiên cứu về cảnh quan khác nhau trong và ngoài nước có đưa ra các định nghĩa khác nhau cho chúng [24][10].
Hệ thống phân loại cảnh quan là một trong những khâu quan trọng để thành lập bản đồ cảnh quan. Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một hệ thống phân loại nào được công nhận là có đầy đủ cơ sở khoa học và chỉ tiêu cụ thể cho từng cấp. Do đó, khi tiến hành nghiên cứu, thành lập bản đồ cảnh quan trên các khu vực, các tỉ lệ khác nhau các tác giả thường xác lập một hệ thống phân loại cụ thể trên cơ sở những hệ thống phân loại đã có trước. Quan niệm cá thể: Người đầu tiên đề xướng quan niệm này là L.
Berg và sau này có các công trình của: A. Xolnsev (1948, 1949) theo quan niệm này. Với quan niệm này, cảnh quan được định nghĩa là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị địa lý tự nhiên cơ sở, là đối tượng cơ bản nghiên cứu lãnh thổ. Theo quan niệm này, Vũ Tự Lập đã định nghĩa “Cảnh quan địa lý là một tổng thể được phân hóa trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, kiểu địa hình, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiểu khí hậu, kiểu thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng, đại tổ hợp thực vật, mà bao gồm tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất” ở đó các cá thể cảnh quan không lặp lại ở bất kỳ lãnh thổ khác [32].
Cảnh quan học đã cung cấp lý luận về tính hệ thống và tính thứ bậc chặt chẽ trong cấu trúc môi trường của sinh vật, là cơ sở hình thành hướng tiếp cận sinh thái cảnh quan của trường phái Nga Xô Viết cũ và được các nhà cảnh quan học Việt Nam kế thừa, phát triển.