MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với điều kiện tự nhiên, khí hậu đa dạng và có nhiều thay đổi từ Bắc vào Nam, Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới với khoảng 12.000 loài thực vật, 3.000 loài động vật đã được ghi nhận và mô tả. Sự đa dạng về điều kiện tự nhiên, địa chất thủy văn cũng như sự đa dạng trong các kiểu sinh cảnh, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa đã góp phần tạo nên sự đa dạng trong khu hệ nấm Việt Nam. Nếu ước tính số loài nấm có thể có trên lãnh thổ Việt Nam gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao (theo ước tính của Hawksworth, 1991-2001) thì số loài nấm có thể có trên lãnh thổ lên tới 70.
Điều đó có nghĩa là hiện nay chúng ta mới ghi nhận được khoảng 1/5 số loài có thể có trên lãnh thổ Việt Nam. Đóng vai tr là một trong những mắt xích cuối cùng trong chuỗi thức ăn, các loài nấm tiêu thụ xác động, thực vật trong tự nhiên cũng như nhiều loại mảnh vụn hữu cơ khác, góp phần khép kín vòng tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái. Các loài nấm lớn có giá thể rất đa dạng, như xác thực vật thân gỗ, vật rơi rụng, tầng thảm mục trong hệ sinh thái rừng, sử dụng chúng làm nguồn dinh dưỡng để phát triển và trả lại hệ sinh thái các hợp chất đơn giản hơn, góp phần quan trọng trong quá trình hình thành đất. Từ lâu con người đã sử dụng nấm lớn làm thức ăn, dược phẩm và cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, đây cũng là nguồn hợp chất thiên nhiên dồi dào mà hiện nay vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Do đó việc đẩy mạnh nghiên cứu nấm đều có ý nghĩa to lớn và ngày càng được quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới. Phân loại theo mục đích sử dụng, các loài nấm lớn có thể phân làm hai nhóm: nấm ăn được và nấm độc. Nấm ăn được sử dụng rộng rãi làm thực phẩm, dược phẩm chúng có thể sử dụng trong rất nhiều món ăn, ở nhiều nền ẩm thực khác nhau. Nấm là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, có độ đạm cao và ít chất béo, chứa nhiều vitamin nhóm B và C.
Nấm là loại thực phẩm được xếp vào loại rau sạch rất giàu dinh dưỡng, có thể thay thế thịt cá và là nguồn dược liệu quý. Bên cạnh đó Luan van 2 nấm lớn còn có công dụng ph ng ung thư, tăng cường sức khoẻ, nhiều loại nấm quý còn vừa là món ăn ngon vừa là mỹ phẩm thiên nhiên không tác dụng phụ giúp chống lão hoá, dưỡng tóc, đẹp da, đặc biệt một số loài còn có công dụng trong ngành công nghiệp và y học. Tuy có nhiều công dụng như vậy, nhưng các nghiên cứu về nấm lớn tại Việt Nam hiện nay còn rất ít, chủ yếu là về các hoạt chất của nấm, các nghiên cứu về phân loại nấm và đánh giá độ đa dạng của chúng vẫn chưa có nhiều. Bên cạnh đó, tính đa dạng nấm lớn ở các rừng quốc gia ngày một giảm xuống do không có sự bảo tồn các loài nấm quý hiếm và chưa có nhận thức đúng đắn cho việc bảo tồn chúng.
Đây là một tổn thất rất lớn trên tất cả các phương diện kinh tế, khoa học, môi trường và nhân văn. Ở miền Bắc Việt Nam, khu vực dãy Tam Đảo là một trong những khu vực có mức độ đa dạng sinh học cao. Theo kết quả điều tra cho thấy ở Tam Đảo có 8 loại rừng và thực bì khác nhau, mà mỗi kiểu rừng đó thường đại diện cho một loại hình lập địa và tương ứng có một tổ thành loài cây nhất định. Đây cũng là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của khu hệ nấm lớn.
Theo công bố của Phan Huy Dục năm 2001, khu hệ nấm lớn Vườn Quốc gia Tam Đảo ghi nhận được 41 loài, 17 họ trong 2 lớp Ascomycetes và Basidiomycetes trong hội thảo quốc tế Sinh học tổ chức tại Hà Nội với báo cáo “Nấm lớn (Macromycetes) ở vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc”. Xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc là một xã nằm ở đầu Tây Nam dãy Tam Đảo và cũng là vùng đệm của Vườn quốc gia. Tuy nhiên hiện nay, chưa có các dẫn liệu về khu hệ nấm lớn cho khu vực này. Chính vì vậy, để đáp ứng nhu cầu bảo tồn và tìm hiểu đa dạng sinh học của nấm lớn, đồng thời mong muốn góp phần bổ sung dẫn liệu về khu hệ nấm lớn khu vực dãy Tam Đảo, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Điều tra, đánh giá đa dạng sinh học của nấm lớn tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”, từ đó làm căn cứ khoa học cho hoạt động bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học nấm lớn trong khu vực.
Mục tiêu nghiên cứu - Phân loại được và đánh giá đặc điểm phân bố của nấm lớn tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; Luan van 3 - Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học của nấm lớn tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Nội dung nghiên cứu 3. Nội dung 1: Điều tra, khảo sát thực địa tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc - Thu mẫu nấm tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; 3. Nội dung 2: Nghiên cứu các loài thuộc các nhóm nấm lớn tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc - Xác định thành phần loài của các nhóm nấm lớn; - Phân tích đánh giá các chỉ số đa dạng sinh học của nấm lớn tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Nội dung 3: Xác định đặc điểm phân bố của nấm lớn tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc - Đánh giá các đặc điểm phân bố của nấm lớn tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; - Xây dựng sơ đồ phân bố của nấm lớn tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Nội dung 4: Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học của nấm lớn tại xã Ngọc Thanh, huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc - Xác định cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển chỗ (các đặc điểm của nấm, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tác động của con người,.) Luan van 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu nấm lớn 1. Tình hình nghiên cứu nấm lớn trên thế giới Từ xa xưa, nấm có giá trị to lớn trong đời sống của con người, nó mang đến nhiều giá trị trong nhiều lĩnh vực như: thực phẩm, dược phẩm, công nghiệp,.
Nấm được xem là sinh vật có kích thước hệ sợi lớn nhất trên hành tinh chúng ta (ở Armillaria bulbosa hệ sợi lan rộng tới 15ha, trọng lượng ước tính 10 tấn, thời gian tới 1. Vào đầu thế kỷ XX, Nấm học phát triển rực rỡ, trở thành một ngành khoa học thực sự [18]. Ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về nấm. Trong một thời gian ngắn (30 - 40 năm) xem xét lại trên cơ sở các tiêu chuẩn phân loại hiện đại và nhiều chi nấm cũ được dựa vào các đặc điểm hiển vi nhiều chi nấm mới đã được mô tả.
Kết quả là đã hình thành được một số hệ thống nấm học khá ổn định ở châu Âu, Bắc Mỹ như hệ thống của Gilbertson and Ryvarden [67]. Trong thế kỷ XX nhiều công trình nghiên cứu về nấm học đã được công bố, tiêu biểu như: C. Theo thống kê của Teng S. Trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI các nhà nghiên cứu đã kết hợp giữa phân loại truyền thống với phân loại dựa trên những tiêu chuẩn hiện đại như: các phản ứng hoá học, sự phân tính, hệ sợi nấm, kiểu gây mục, đặc điểm nuôi cấy, mà đặc biệt là cấu trúc phân tử ADN đã mang lại những kết quả chính xác hơn.
Bên cạnh phương pháp phân loại truyền thống dựa vào hình thái (morpho - Luan van 5 taxonomy), việc sử dụng các phương pháp phân loại dựa vào hoá học (chemo - taxonomy) và gene (geno - taxonomy) đã loại bỏ được những nhầm lẫn khi phân loại những loài có hình thái tương đồng. Một số công trình nghiên cứu dựa vào cấu trúc phân tử ADN như Aime Catherine M. cùng cộng sự (2006) với nghiên cứu “Tổng quan về phân loại bậc cao của phân ngành Pucciniomycotina dựa trên phân tích kết hợp phân tích trình tự đơn vị phân tử lớn và nhỏ rDNA” - “An overview of the higher level classification of Puccinionmycotyna based on combined analyses of nuclear large and small subunit rDNA Sequences” [44]. Vào những năm gần đây nhất, trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về đặc điểm hình thái học, mô tả chi tiết về: mũ, bào tử, hệ sợi, sự phân tầng của ống,.và tìm ra một số loài nấm mới.
Điển hình là một số nghiên cứu 2014 của Dörfelt Heinrich, Ruske Erika với công trình “Hình thái nấm lớn” tác giả đã cung cấp 112 hình ảnh màu và mô tả về hình thái học nấm lớn [50]. Cũng trong năm 2014, Rodham E. Tulloss cùng cộng sự của mình đã tìm ra loài mới Amanita pruittii trong nghiên cứu “Loài mới Amanita pruittii, đặc điểm hình thái một số loài ở các quốc gia ven biển Thái Bình Dương, Mỹ”, ông đã dựa trên cơ sở hình thái và cấu trúc phân tử để công bố loài mới Amanita pruittii thuộc vùng California và vùng khác của Mỹ [66]. Năm 2016 tác giả người Thái - Benjarong Thongbai, cùng cộng sự, đã nghiên cứu “Loài mới cho khoa học và 4 loài mới thuộc chi Amanita (Amanitaceae; Basidiomycota) thuộc phía Bắc của Thái Lan”, công trình nghiên cứu đã tìm ra loài mới cho khoa học đó là A.castannea và 4 loài mới ghi nhận ở Thái Lan là A.
Vào năm 2017 tác giả Ginns J. với công trình nghiên cứu của mình “Nhóm nấm Polypores ở British Columbia” đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái của nhóm nấm lỗ về mặt trên, mặt dưới, hệ sợi, bào tầng, bào tử, đảm.Công trình đã mô tả Luan van 6 hơn 200 loài nấm lỗ ở Anh và xây dựng khóa định loại tương đối hoàn chỉnh, và chặt chẽ [49]. Tình hình nghiên cứu Nấm lớn ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ lâu nhân dân đã biết dùng Nấm làm thực phẩm và dược phẩm. Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ ” và “Kiến văn tiểu lục” đã đánh giá “Linh chi là một sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam”.