Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giói thiệu chung về chó nhà Việt Nam 1. Giói thiệu về chó nhà Chó nhà (Canis lupus familiris hay Canis familirf) là loài được nuôi phồ biến và phân bố ở khắp mọi nơi trên thế giới. Có nhiều nghiên cứu cho rằng chó nhà được thuân hóa từ chó sói cổ đại cách đây khoảng 11.000 năm nhưng cho đến nay nguôn gốc của chó nhà vẫn chưa được xác minh rõ ràng.
trên thế giới có khoảng 400 giống chó nhà phân bố khắp các châu lục: Châu Ấu. Cháu Mỹ, Châu Á.[5], Hiện tại, Việt Nam có một số giống chó địa phương và một số giống chó nhập nội; tiêu biểu nhất cùa các giống chó địa phương là tứ đại danh khuyển của quốc gia là chó cộc đuôi H’Mông, chó Bắc Hà, chó Lài (Dingo Đông Dương) và chó Phú Quổc; các giống chó nhập nội như Becgie, Ngao Tây Tạng, Chihuahua, Huski. [5], Các giống chó nhà Việt Nam là giống chó được nuôi phổ biến nhất, nhìn chung có tầm vóc trung bình và nhỏ từ 45 - 65 cm, nặng trung bình từ 10 - 15 kg. Cơ thể hơi dài hơn so với chiều cao, thông thường chó đực sẽ to hơn chó cái.
Với bản tinh của chó nhà Việt Nam hiền lành, thông minh, sức khỏe tốt và trung thành với chủ nên chúng được nuôi với nhiều mục đích khác nhau như thú nuôi, giữ nhà hoặc lảm thực phẩm. Đặc điểm để nhận biết chó nhà Việt Nam là chiều dài toàn đầu so với chiều dài mõm là 2 : 1, hộp sọ có hình tam giác, mõm chó hình chừ V nhọn chiếm khoảng 1/3 so với khuổn mặt, đầu mõm hơi nhọn, gốc mõm khá rộng, càn đổi với tổng thể chiều dài của đầu. Mũi có màu đen lưỡi có màu hồng nhạt hoặc có đốm màu đen ở lưỡi. Tai nằm hai bên hộp sọ, dựng đứng như hình vỏ sò hoặc hướng ra phía trước.
Tai to vừa phài, cân đối, không nhọn, mặt trong tai có ít lông. Nêu nhìn thẳng trực diện thì hai tai dựng đứng, vuông góc với đinh sọ. Mắt có màu đen hoặc có màu nâu. Các màu lông pho biến là màu lông đỏ lửa, đen tuyền, trăng, xám, nâu hoặc vện.
Sức đề kháng của chó 3 nhà Việt Nam khá tót gán như khó mắc bệnh, khá náng kháng bệnh cao, thích nghi với điều kiện môi trường nhiệt đới gió mùa của Việt Nam [5j,[36]. Chó nhà Việt Nam bẳt đầu sinh sản khi được 12 tháng tuổi, chó thưởng sinh từ 4 đên 8 con trên một lân mang thai, có trường hợp có thê sinh đến 10 - 12 con. Thời gian mang thai cùa chó nhà khoảng từ 60 - 62 ngày. Tì lệ sổng sốt cùa mỗi cá thể chó sơ sinh đến khi trưởng thành là hơn 80% [5], 1.
Giói thiệu về chó Phú Quốc Chó Phú Quôc là một loại chó của đảo Phú Quôc thuộc tình Kiên Giang, Việt Nam. Chó Phú Quốc có nhiều màu sắc khác nhau như: đen, nâu. vện, xám và các màu khác. Nhưng màu phổ biến nhất là đen và vàng chiếm đến 3.
Điềm nổi bật nhât cùa chó Phú Quôc là các xoáy lông trên sống lưng, có nhiều hĩnh dạng các xoáy lưng khác nhau như hình kim, hình mũi tên, hình quả lựu. Chó Phú Quốc là giống chó quý với nhiều đặc tính nổi bật mà những giống chó khác không có như: thông minh, nhanh nhẹn, trung thành, dũng mãnh, có khà năng đi săn và canh gác tốt. Ngoại hình có tầm vóc trung bình, dáng cao thon. Lông ngắn, dày và sát.
Thân thường nổi lên những bắp cơ ở vùng đùi trước và đùi sau. Đuôi vót thon và cong lên. Chó có mõm dài, thường có màu đen. Mắt sáng, tai nhỏ và đứng.
Bốn chân cao, bàn chân có màng thích hợp cho việc bơi lội dưới nước. Thái Kế Quân và cộng sự (2016) đã phân tích đặc tính di truyền của chó Phú Quốc sống tại đảo Phú Quốc mang các haplotype thông dụng (dạng A, B và C) còn mang thêm dạng E là dạng rất hiếm trên thế giới. Neu dạng E chi chiếm 1 - 2% tổng số đàn chó trên thế giới thì haplotype dạng E ở chó Phú Quốc lên đến 16,7%. Trình tự genome ty thể dòng E4 của chó Phú Quốc được phân tích cho thấy chó Phú Quốc cỏ quan hệ gần với chó Triều Tiên và chó Nhật Bản.
Dựa ưên các SNP, các nhà nghiên cứu đã xác định được 6 haplogroup là A, B, c, D, E và F và mồi haplogroup cỏ nhiều haplotype khác nhau do sự sai khác 1 nucleotide nào đó. Điều đó cho thấy sự khác biệt về hình thái của các nòi chó trên thế giới không phài là kết quà của quá trình thuần hóa chó sói ở từng khu vực địa lý khác nhau mà do quá trình di cư và quá trình giao phối giữa các nòi với nhau. Điều này lý giải vì sao cãc nòi khác nhau có thể mang nhiều haplotype khác nhau và một haplotype cỏ thề tìm thầy ở nhiều nòi khác nhau. Có đến 71,3% chó mang haplogroup A; 95,9% mang haplogroup A, B hoặc c.
Cả 3 nhóm đều 4 phân bô trên toàn thé giới với tần suất ngang nhau. Ngược lại. ba nhóm haplogroup D, E và F là các haplogroup hiếm, chi chiêm chưa đến 56% cá thề chó trên thế giới và chúng chỉ phân bô giới hạn ờ Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha (nhóm D); à Nhật Bản, Hàn Quôc và Trung Quốc (nhóm E); Nhật Bản và Siberia (nhóm F) [34]. Phân loại chó nhà Trong hệ thông phân loại sinh giới, chó nhà có vị trí phản Ỉ0ậ; sau: Giới: Động vật (Animalia) Phân Giới: Động vật đa bào (Metazoa) Ngành: Động vật có dây song (Chordata) Phân ngành: Động vật có xương sống (Vertebrata) Lớp: Thú (Mammalia) Bộ: Ăn thịt (Carnivora) Phân bộ: Động vật ăn thịt dạng chó (Caniformiat Họ: Chó (Canidae) Phân họ: Chó (Caninae) Giống: Chó (Canis) Loài: Chó (Cams lupus) Phân loài: Chó nhà (Canis lupus familiris hay Canis familiris ) Họ Chó có khoảng 37 loài với gần 400 giống nguyên thủy và hơn 1 triệu loài lai giữa các giống chó khác nhau [5].1 Chó nhà Việt Nam 5 1.
Tông quan về phương pháp 1. Phuong pháp tách chiết DNA tổng số Phương pháp tách chiết DNA gồm 3 bước chính: Bước 1: Phá màng tế bào và màng nhân (tế bào euraryote;. Thông thường người ta nghiền tế bào, mò trong một hỗn hợp chất tẩy (detergent như SDS. sarcosyl) và proteinase (proteinase K).
Hỗn hợp này sẽ phá võ màng tế bão vá màng nhân, giải phóng DNA ra môi trường đồng thời phân hủy các protein liên kết --y. Bưó’C 2: Loại bỏ các thành phần không mong muốn trong mỉ”. chú yếu là các protein. Mau được lac thật mạnh trong một dung dịch phenol và chicưctorm, dung dịch phenol: chloroform có tác dụng làm biến tính protein đồng thời không hòa tan nuleic acid.
Protein khi bị biến tính sẽ không còn hòa tan trong pha nước có chứa nuleic acid và sau khi ly tâm sẽ tủa thành một lớp nằm giữa pha nước và pha phenol: chloroform. Pha nước có chứa nuleic acid được thu nhận lại [1], Buóc 3: Tủa nuleic acid. Mục đích của việc tủa là nhằm thu nhận nuleic acid dưới dạng cô đặc, một mặt nhằm bảo vệ chúng khỏi sự phân hủy của các enzyme, mặt khác để có thể hòa tan chúng lại trong dung dịch theo nồng độ mong muốn. Hai cách tủa thông dụng là: - Tủa trong ethanol, việc tủa này được thực hiện trong môi trường có lực ion cao (nồng độ muối cao), và nồng độ ethanol cao (2,5 dung tích ethanol/1 dung tích mẫu), nhiệt độ thấp tạo thuận lợi cho việc tùa.
Hầu như toàn bộ nuleic acid đều tùa trong các điều kiện nêu trên [1]. - Tủa trong isopropanol, điểm khác biệt so với phương pháp trên là hầu như không cần muối, thể tích isopropanol/thể tích mẫu là 1/1. Các DNA cỏ ưọng lượng phân tử thấp không bị tủa, do đó có thể loại ra khi tủa trong isopropanol [1]. Trong cả hai phương pháp, nuleic acid sẽ được thu nhận lại bằng ly tâm.
Sau đó, cặn tủa phải được rửa trong ethanol 70% để loại bò các muối hoặc các dấu vết của isopropanol còn dính lại trên mâu [1]. Phương pháp điện di Điện di là kỹ thuật được sử dụng ưong phòng thí nghiệm để phân tích các đại phân tử tích điện. Trong phòng thí nghiệm sinh học phân tử, người ta thường dùng phương pháp điện di để tách ly, phát hiện phàn tữ DNA nguyên vẹn, DNA bị cắt hạn 6 chế và sản phẩm cùa PCR. Kỹ thuật này sừ dụng một dung dịch đệm (buffer; đế dẫn điện và tạo điện trường đêu, một bản gel đóng vai trò là thể nền để phân tách các phán tư vã các chất nhuộm khác nhau (ethidium bromide, bạc, xanh Coomassie) đế phát hiện vị trí các phân tử trên gel sau điện di.
Đê đánh giá mức độ tinh sạch, nguyên vẹn của phân từ DNA sau khi tinh chiết người ta dùng phương pháp điện di DNA. Nguyên tắc này dựa vào đậc tinh cùa cấu trúc DNA. Đó là các đại phân từ tích điện âm (-) đồng đều trên khắp bề mặt nên chịu tác động của một điện trường có hiệu điện thế và cường độ thích hợp. chúng sẽ di chuyển về cực dương (+) của điện trường.
Các đoạn DNA sẽ di chuyền trong điện trường trên bản gel với tốc độ tương quan nghịch với kích thưcc của chúng. Trong cùng một thời gian các đoạn nhỏ sẽ di chuyển xa hơn các đoạn lớn. ĩữ đó mà DNA được tách thành vạch trên bản gel. Neu phổ điện di cùa dung dịch DNA đã tách chiết sau khi hiện hình cho một dải băng rộng hoặc cho nhiều vạch thì chứng tò DNA bị đứt gãy hoặc lẫn với RNA.
Phổ điện di là băng gọn, rõ chứng tỏ DNA không bị đứt gãy và không lẫn tạp chất. Để điện di người ta dùng gel agarose hoặc gel polyacrylamide: - Gel agarose là loại gel thông dụng nhất do thao tác đơn giản, thường dùng để phân tách những đoạn có kích thước trong khoảng 0. Gel được đổ trên một giá thể nằm ngang và điện di thực hiện theo phương ngang. Các nucleic acid ơong gel sẽ được hiện hình dưới tia từ ngoại (ƯV) nhờ hóa chất ethidium bromide.
Điện di trên gel agarose còn được sử dụng để tinh sạch và thu nhận mẫu. - Gel polyacrylamide được dùng để tách các đoạn có kích thước nhò tức là dưới 1. Thao tác với gel này phức tạp hơn gel agarose. Do đỏ gel này chi được dùng để tinh sạch các oligonucleotide tổng hợp, xác định trình tự DNA, tách các đoạn DNA nhỏ có chiều dài dưới 500 cặp base.
Gel được đổ giừa hai tấm thủy tinh và phương điện di là phương thẳng đứng [4]. Phưong pháp PCR Phương pháp PCR (polymerase chain reaction) được mô tả bởi Karl Mulis và cộng sự (1985) được sử dụng rộng rãi nhất.