MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn lực to lớn để phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước. Nước ta hiện nay đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên tất yếu phải chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp sang mục đích đất phi nông nghiệp. Nhà nước thực hiện thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội.
Trong đó, các dự án xây dựng nhà máy thủy điện đòi hỏi phải thu hồi một diện tích đất rất lớn với tính chất đặc thù của công trình thủy điện là được xây dựng chủ yếu ở các khu vực thuộc địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống theo cộng đồng, mỗi dân tộc có một phong tục tập quán riêng, nên việc thu hồi đất sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề về kinh tế xã hội cũng như ảnh hưởng tới lối sống của người dân bản địa. Dự án xây dựng nhà máy thủy điện Tuyên Quang (thủy điện Na Hang) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19 tháng 04 năm 2003, bắt đầu triển khai xây dựng từ năm 2003 trên sông Gâm thuộc địa bàn huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang, công trình hoàn thành đưa vào khai thác năm 2007. Nhiệm vụ chính của dự án xây dựng Thủy điện là cung cấp điện năng phục vụ cho người dân tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang đồng và cung cấp nguồn điện cho cả nước đồng thời thời góp phần chống lũ vào mùa mưa và cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp về mùa khô cho vùng hạ du. Để hoàn thành xây dựng công trình thủy điện đòi hỏi phải có mặt bằng để xây dựng, nhu cầu về đất cho xây dựng là rất lớn.
Để có đất cho việc xây n 2 dựng trên cần phải di dời và tái định cư người dân vùng lòng hồ. Đến nay cơ bản đã hoàn thành công tác di đân tái định cư, bước đầu cuộc sống của người dân đã được ổn định. Tuy nhiên người dân khu tái định cư vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì nhiều nguyên nhân, các nguyên nhân chủ yếu như: chuyển đến nơi ở mới còn thiếu tư liệu sản xuất, phong tục tập quán tại nơi đến tái định cư khác với nơi họ từng sinh sống, trong khi đó số hộ nghèo cao, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới mục tiêu của dự án. Hiện tại, tỉnh Tuyên Quang đang triển khai thực hiện quy hoạch điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư của Dự án thủy điện Tuyên Quang đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1766/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2011.
Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của phương án Quy hoạch điều chỉnh, cần phải có những nghiên cứu, đánh giá, nhìn nhận lại một cách khách quan, toàn diện các mặt của dự án tái định cư, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại và đưa ra giải pháp cụ thể để khắc phục, đảm bảo đủ các điều kiện để người dân tái định cư công trình thủy điện Tuyên Quang tại xã Khuôn Hà ổn định chỗ ở và đời sống, trên cơ sở khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường. Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Quản lý Tài nguyên cùng với sự hướng dẫn của: ThS. Nguyễn Đình Thi em thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác xây dựng khu tái định cư thủy điện Na Hang tại xã Khuôn Hà huyện Lâm Bình tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu của đề tài Đánh giá thực trạng đời sống, việc làm, thu nhập của người dân tái định cư xã Khuôn Hà.
Đánh giá kết quả thực hiện xây dựng khu tái định cư xã Khuôn Hà. n 3 Đề xuất một số giải pháp có tính khoa học phù hợp với thực tế góp phần nâng cao đời sống của hộ dân tái định cư và hiệu quả xây dựng khu tái định cư tại xã Khuôn Hà. Yêu cầu của đề tài Nắm vững chính sách pháp luật về đất đai, môi trường và các lĩnh vực có liên quan. Công tác điều tra thu thập tài liệu, số liệu phải đầy đủ, chính xác, trung thực, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng.
Xác định đúng đối tượng, đúng mục đích, phạm vi cần nghiên cứu từ đó đánh giá những tồn tại khó khăn tìm ra nguyên nhân để đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn. Đưa ra các giải pháp phải phù hợp với địa phương và có tính khả thi cao. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng, vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn.
Tìm hiểu nắm vững kiến thức thực tế thực hiện chính sách hỗ trợ tái định cư. Ý nghĩa thực tiễn Qua việc nghiên cứu về công tác xây dựng khu tái định cư nhằm tìm ra thuận lợi, khó khăn, đề xuất các giải pháp phù hợp cho công tác xây dựng, ổn định đời sống người dân. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình bồi thường, hỗ trợ di dân tái định cư trên thế giới 2.
Chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất của một số tổ chức quốc tế 2. Ngân hàng thế giới (WB) Ngân hàng thế giới (WB) là tổ chức đầu tiên đưa ra chính sách tái định cư không tự nguyện, và từng bước, nghiên cứu phát triển (chu kỳ 4 năm). Năm 1980, WB đưa ra Chính sách chung cho tái định cư không tự nguyện trong Bản hướng dẫn hoạt động về những vấn đề xã hội trong tái định cư không tự nguyện trong các dự án do WB đầu tư. Năm 2004, WB đưa ra bản hướng dẫn hoạt động về tái định cư không tự nguyện.
Chính sách tái định cư không tự nguyện của WB dựa trên nguyên tắc lựa chọn phương án tái định cư ít nhất và có sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, đại diện của những người thiệt hại vào thiết kế, khai thác, theo dõi giám sát quá trình công việc tái định cư. Chính sách bồi thường khi thu hồi đất của các ngân hàng Mỹ, Ngân hàng Châu Á và ngân hàng phát triển Châu Phi Tiếp theo chính sách tái định cư không tự nguyện được các ngân hàng khu vực đưa ra như: Ngân hàng phát triển liên Mỹ (Inter Americal Development Bank - IDB) 1993; Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB( 1995); Sổ tay tái định cư (1998); Ngân hàng phát triển Châu Phi (1995). Các tổ chức quốc tế khác Năm 1990, một số tổ chức quốc tế như: Trung tâm Liên hiệp quốc tế về định cư (United Nation Center of Human Settlement/Habitats); Ủy ban Liên hiệp quốc tế về quyền con người (UNCHR); Tổ chức Nông Lương thế giới n 5 (FAO) đã tập chung nghiên cứu vấn đề thu hồi đất - chỗ ở bắt buộc; năm 1997 UNCHR đưa ra hướng dẫn thực tiễn thu hồi đất - chỗ ở bắt buộc. Đặc điểm chung của các chính sách này là nguyên tắc chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án, chi phối từ pháp luật, chính sách, quy hoạch, thu nhập, thuế ở tầm quốc gia đối với việc triển khai trên thực tế có liên quan đến chính quyền địa phương, nhà đầu tư, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại với những vấn đề chủ yếu như: Tổ chức tốt việc tái định cư cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại gắn với môi trường sống, việc làm, sinh hoạt cộng đồng liên quan đến tập quán, văn hóa, tâm linh; Bảo đảm quyền hưởng lợi của địa phương, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại từ thuế, phí, giá ưu đãi mua sản phẩm của dự án; Sự gắn kết lâu dài giữa dự án và cộng đồng dân cư địa phương nhằm đảm bảo tự chủ, bình đẳng giữa hai bên với sự gắn kết quyền lợi lâu dài.
Nguyên tắc chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án đã được áp dụng trong nhiều dự án đã triển khai ở các nước trên thế giới, đặc biệt các dự án thủy điện. Tình hình bồi thường hỗ trợ tái định cư ở một số nước trên thế giới 2. Trung Quốc Trung Quốc thi hành chế độ công hữu hóa xã hội chủ nghĩa về đất đai, gồm hai loại: Đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước; đất nông thôn, ngoại thành, ngoại thị thuộc sở hữu tập thể. Hiến pháp lần sửa đổi mới nhất năm 2005 quy định: Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng có thể căn cứ vào pháp luật mà trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường.
Các nhà làm luật giải thích rằng trưng thu áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể do phải chuyển quyền sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng thì áp dụng đối với đất thuộc sở hữu nhà nước vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất. n 6 Luật đất đai ra đời năm 1986, đã qua nhiều lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1988, 1998 và 2004, chia đất đai thành đất nông dụng, đất dùng vào xây dựng (kiến thiết) và đất chưa lợi dụng. Luật quy định mọi đơn vị và cá nhân khi cần đất đai để tiến hành xây dựng thì phải căn cứ vào pháp luật mà xin sử dụng đất thuộc sở hữu của nhà nước, trừ trường hợp xây dựng nhà ở nông thôn, cơ sở hạ tầng và công ích hương trấn. Nếu Nhà nước chấp nhận đề nghị đó thì trưng dụng đất thuộc sở hữu nhà nước để cung ứng (trong một số trường hợp thì gọi là thu hồi quyền sử dụng đất), nếu không có hoặc không đủ loại đất này thì trưng thu đất thuộc sở hữu tập thể để chuyển đổi thành đất thuộc sở hữu nhà nước.
Trung Quốc rất coi trọng việc bảo vệ đất canh tác, đặc biệt là “đất ruộng cơ bản” đã được chính quyền xác định dùng vào sản xuất lương thực, bông, dầu ăn, rau hoặc đã có công trình thủy lợi tốt trên đó. Luật còn quy định cụ thể đất ruộng cơ bản phải chiếm 80% trở lên đất canh tác của mỗi tỉnh. Cấm không được chiếm dụng đất canh tác để xây lò gạch, mồ mả hoặc tự ý xây nhà, đào lấy đất cát, khai thác đá, quặng,.