CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác thanh tra đối với hoạt động quản lý nhà nước, ở nước ta nhiều năm qua, pháp luật về thanh tra nói chung, thanh tra chuyên ngành nói riêng đã được nghiên cứu, phân tích tại nhiều công trình khoa học. Tuy nhiên thanh tra chuyên ngành đóng BHXH, BHYT, BHTN là một lĩnh vực mới do vậy số lượng bài viết, sách báo đề cập về nội dung này còn hạn chế. Những công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án, bài nghiên cứu về liên quan có thể kể đến như: Hồ Thị Thu An (2015), Một số khó khăn vướng mắc trong thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành, Bài nghiên cứu Vụ pháp chế Thanh tra Chính phủ Nguyễn Thị Chính (2010), Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Mai Ngọc Cường (2013, chủ biên), Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Mai Ngọc Cường (2013), Về phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt nam đến năm 2020, Tạp chí kinh tế và phát triển, số 192 Mai Ngọc Cường, Phạm Thị Kim Oanh (2013), Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nguyễn Văn Chiều (2014), Chính sách An sinh xã hội và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Nguyễn Thị Dung, Đỗ Văn Quân (2009), “Quá trình điều chỉnh của pháp luật đối với người lao động thôi viêc hoặc mất việc làm ở Việt Nam”, Tạp chí bảo hiểm xã hội Luan van 6 Điều Bá Được (2012), Giải pháp chống lạm dụng quỹ BHXH; Tạp chí bảo hiểm xã hội, kỳ 1, tháng 8 Phạm Trường Giang (2010), Hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Nguyễn Minh Hoàn (2009), Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội Đinh Công Hoàng, Đinh Công Tuấn (2013), An sinh xã hội Bắc Âu trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Nguyễn Huy Hoàng (2004), Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Lê Bạch Hồng, Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với an sinh xã hội của đất nước, tạp chí Bảo hiểm Xã hội, số tháng 9 năm 2010 Nguyễn Thái Hồng (2011), Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài khoa học cấp Bộ Nguyễn Tiến Hùng (2016), Bảo đảm An sinh xã hội - một phương thức bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Con người Bùi Sỹ Lợi (2015), Tính ưu việt của Luật BHXH, Luật BHYT - Thách thức trong triển khai và giải pháp đảm bảo An sinh xã hội, Tạp chí Cộng sản Nguyễn Tuấn Khanh (2014), Tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài khoa học cấp Bộ Hoàng Đình Khuê, Nguyễn Quốc Sửu (2015), Nhu cầu minh bạch hóa hoạt động thanh tra, kiểm tra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Vũ Văn Phúc (2012), An Sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới năm 2020, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Luan van 7 Lê Thị Thu Oanh (2004), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật Lê Thị Hoài Thu (2005), Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật học, Khoa luật–Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thị Thanh Thuý (2015), Pháp luật về thanh tra chuyên ngành ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật Lê Thị Thúy (2019), Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra Nguyễn Thị Hải Yến (2012), Hoạt động thanh tra chuyên ngành của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Thanh tra Chính phủ. Kết quả của các bài viết, các công trình nghiên cứu trên cho thấy lĩnh vực BHXH, BHYT là một trong những đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, các học giả và cả dư luận xã hội. Các đề tài trên tập trung vào lĩnh vực thu BHXH, các chế độ BHXH, BHYT, BHTN; việc quản lý quỹ BHXH, BHYT, BHTN; định hướng phát triển trong tương lai của ngành BHXH. Trong đó một số nghiên cứu sâu về lý luận, phân tích rõ các bất cập về mặt chính sách để đưa ra những giải pháp thiết thực, chẳng hạn: Luận án tiến sĩ của Phạm Trường Giang (2010), Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế thu BHXH, nghiên cứu sự phối hợp giữa các bộ phận trong thống thu BHXH, từ đó phát hiện những tồn tại, bất cập trên cơ sở phân tích thực trạng công tác thu ở BHXH Việt Nam giai đoạn 2004-2008; luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Chính về “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến công tác tổ chức và chi trả các chế độ BHXH, rút ra những vấn đề còn tồn tại như việc lập kế hoạch chi còn sai sót, công tác kiểm tra hướng dẫn còn chưa sâu sát, Luan van 8 phương tiện vận chuyển và bảo quản tiền mặt còn thiếu, mạng lưới thông tin còn hạn chế đã ảnh hưởng đến hoạt động chi trả cũng như quyền lợi của đối tượng hưởng.
Đặc biệt với nghiên cứu của Đinh Công Hoàng, Đinh Công Tuấn (2013), An sinh xã hội Bắc Âu trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam đã cho người viết thấy được bức tranh khái quát về hệ thống an sinh xã hội, những thách thức với hệ thống an sinh xã hội và các chương trình điều chỉnh chính sách ASXH trong khủng hoảng ở một số nước Bắc Âu tiêu biểu là Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy trong giai đoạn khủng hoảng từ năm 2008 đến 2011. Từ việc nghiên cứu điều chỉnh chính sách an sinh xã hội tại các quốc gia nói trên, các tác giả khái quát chung những điều chỉnh chính sách an sinh xã hội ở các nước Bắc Âu trong khủng hoảng, đồng thời rút ra 4 kết luận: tất cả các nước Bắc Âu đều có những điều chỉnh chính sách an sinh xã hội một cách mạnh mẽ và toàn diện trên nhiều vấn đề xã hội nhằm đối phó với những tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và giải quyết những thách thức của hệ thống an sinh xã hội; mặc dù mỗi nước đều thực thi điều chỉnh chính sách ở một lĩnh vực khác nhau hoặc ở mức độ điều chỉnh khác nhau, nhưng nhìn chung các chính sách an sinh xã hội ở Bắc Âu trong giai đoạn khủng hoảng đều hướng mạnh về thị trường lao động; mặc dù gặp nhiều khó khăn về ngân sách, nợ công trong giai đoạn khủng hoảng, các nước Bắc Âu vẫn tập trung thực hiện các chính sách trợ cấp xã hội một cách hào phóng; điều chỉnh chính sách an sinh xã hội ở các nước Bắc Âu kể từ năm 2008 đến nay có cả tính đặc thù và khác biệt. Đồng thời đã cung cấp những thông tin liên quan đến thực trạng hệ thống ở Việt Nam và tác động của việc điều chỉnh chính sách an sinh xã hội Bắc Âu đối với Việt Nam. Trên cơ sở những nội dung đã phân tích, các tác giả đưa ra một số bài học và kiến nghị chính sách cho Việt Nam: cân đối ngân sách để giải quyết an sinh xã hội khủng hoảng kinh tế gắn với tạo việc làm đầy đủ và thực hiện Luan van 9 tốt các mục tiêu an sinh xã hội; thực hiện chính sách an sinh xã hội phổ quát, toàn diện; xây dựng thị tường lao động tích cực; vai trò quan trọng của Nhà nước trong xây dựng chính sách an sinh xã hội và phân bổ phúc lợi xã hội; cần tránh những khiếm khuyết vốn có của mô hình an sinh xã hội ở Bắc Âu thời gian qua.
Riêng trong công tác thanh tra, thanh tra chuyên ngành; các nghiên cứu mang tính chất chuyên môn cao như Luận án tiến sĩ Pháp luật về thanh tra chuyên ngành ở Việt Nam hiện nay của Bùi Thị Thanh Thuý (2015), Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay của Lê Thị Thúy (2019), Hoạt động thanh tra chuyên ngành của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành của Nguyễn Thị Hải Yến (2012) đã nêu rõ quá trình hình thành, phát triển của ngành thanh tra nói chung, thanh tra chuyên ngành nói riêng; các khó khăn vướng mắc trong tổ chức và hoạt động thanh tra như việc giao chức năng thanh tra chuyên ngành cho cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, việc thực hiện các quyền trong quá trình thanh tra. Bên cạnh đó, việc tiếp cận các quy định về chính sách BHXH, BHYT, BHTN ở một số nước trên thế giới đã giúp người viết có sự so sánh, đối chiếu với quy định của pháp luật Việt Nam, làm căn cứ để phân tích và đưa ra những kiến nghị phù hợp, thiết thực với nội dung đề tài nghiên cứu. Nhật Bản là quốc gia có hệ thống pháp luật về BHYT từ rất sớm và có bề dày phát triển. Luật BHYT bắt buộc của Nhật Bản ban hành năm 1922, là quốc gia Châu Á đầu tiên ban hành luật BHYT bắt buộc.
Tiếp theo đó năm 1938 ban hành Luật BHYT quốc gia, năm 1939 ban hành Luật BHYT cho người lao động, Luật BHYT cho ngư dân và đến năm 1961, Nhật Bản thực hiện BHYT cho toàn dân. Nguồn quỹ BHYT được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và tài trợ của Nhà nước. Trách nhiệm đóng BHYT được thực hiện theo nguyên tắc mức phí đóng BHYT được chia đều, người lao động đóng 50%, Luan van 10 chủ sử dụng lao động đóng 50%. Luật BHYT Nhật Bản xác định riêng hai loại quỹ cho các đối tượng để có sự hỗ trợ cho những đối tượng yếu thế.