phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của thể chế quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội. Chƣơng 2 : Thực trạng thể chế quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội ở tỉnh Quảng Trị. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.
Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội (BHXH) 1.Khái niệm BHXH Theo ILO: “BHXH là thuật ngữ chia sẻ rủi ro và tài chính làm cho BHXH đạt hiệu quả và trở thành một hiện thực ở tất cả các nước trên thế giới”.[12] Trong tác phẩm “Một số vấn đề về chính sách đảm bảo XH ở nước ta hiện nay”: “BHXH chính là một quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích dần do sự đóng góp của người sử dụng lao động (SDLĐ) và người lao động dưới sự điều tiết của nhà nước, nhằm đảm bảo một phần thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu của người lao động và gia đình họ khi gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng thu nhập theo lao động”.[13] - Theo giáo trình Kinh tế bảo hiểm của đại học kinh tế quốc dân: “BHXH là sự đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ khi bị giảm, bị mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, trên cơ sở san sẻ trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH”. - Trong từ điển bách khoa Việt Nam tập 1: “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật nhằm đảo bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.1 Luật BHXH do Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014: “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.[22] 9 Từ những khái niệm trên, có thể hiểu về BHXH là: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Đối tượng của BHXH và đối tượng tham gia BHXH 1. Đối tượng của BHXH BHXH là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất do giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm vì có các nguyên nhân như ốm đau tai nạn, tuổi già.
Chính vì vậy, đối tượng của BHXH là phần thu nhập của NLĐ bị biến động hoặc giảm, mất đi do gặp phải những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ xảy ra. Đối tượng của BHXH không chỉ là các khoản thu nhập theo lương mà bao gồm các khoản thu nhập khác ngoài lương như: thưởng, phụ cấp. cho NLĐ có nhu cầu đóng góp thêm để được hưởng mức trợ cấp BHXH. Đối tượng tham gia BHXH Đối tượng tham gia của BHXH là NLĐ và người SDLĐ.
Họ là những người trực tiếp tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản phần trăm nhất định so với tiền lương của NLĐ theo quy định của luật BHXH. Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó trong xã hội. Trong thời kỳ đầu khi triển khai BHXH, hầu hết các nước chỉ áp dụng đối với những người làm công ăn lương để đảm bảo mức đóng góp ổn định, đảm bảo an toàn quỹ BHXH. Hiện nay, khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu sử dụng NLĐ trong và ngoài doanh nghiệp nhà nước tăng lên nhiều thì đối tượng tham gia BHXH và đối tượng của BHXH cũng được mở rộng.
Vì vậy, đối tượng tham gia của BHXH bao gồm: + Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: NLĐ và người SDLĐ phải tham gia BHXH một cách bắt buộc với mức đóng và mức hưởng BHXH theo quy định của luật BHXH. 10 + Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: Áp dụng cả với người làm công ăn lương và NLĐ không làm công ăn lương, nhường là do sự đóng góp của NLĐ cùng với sự giúp đỡ của ngân sách Nhà nước. Đặc điểm của BHXH Thứ nhất, BHXH là hoạt động chia sẻ rủi ro của cộng đồng theo nguyên tắc “số đông bù số ít” và nguyên tắc “tiết kiệm chi tiêu”: + Theo nguyên tắc “số đông bù số ít”: Rủi ro của một hoặc một số người sẽ được chia sẻ cho nhiều người tham gia BHXH cùng gánh chịu, đây là nguyên tắc mang tính đặc thù của hoạt động BHXH. Theo cách đó, những rủi ro trong cuộc sống như: ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, chết sớm là gánh nặng cho bản thân và gia đình của số ít những người không may sẽ trở nên nhẹ bớt khi được san sẻ cho nhiều người.
Nói cách khác, đó chính là sự thể hiện tính tương hỗ của cộng đồng - những thành viên trong xã hội thông qua việc bù trừ rủi ro qua quỹ BHXH. Nhờ điều này mà tính xã hội của BHXH đã được thể hiện rất rõ nét, đó là cộng đồng chung tay góp lại để chăm lo cho những cá nhân không may gặp rủi ro. Vì vậy, BHXH muốn thật sự thành công thì phải đảm bảo được nguyên tắc này và đòi hỏi phải thu hút được đông đảo NLĐ tham gia làm cho nguồn quỹ BHXH dồi dào thì khi NLĐ gặp rủi ro phần bồi hoàn nhờ đó sẽ có điều kiện tăng lên. + Theo nguyên tắc “tiết kiệm chi tiêu”: Người tham gia BHXH phải “để dành” một khoản thu nhập bằng việc đều đặn đóng góp khoản “để dành” vào quỹ BHXH lúc có thu nhập để được hưởng trợ cấp lúc tạm thời hoặc vĩnh viễn mất khả năng lao động.
Thứ hai, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập của các thành viên trong xã hội theo chiều dọc và chiều ngang: + Phân phối lại theo chiều ngang chỉ thể hiện trong nội bộ những người được hưởng quyền trợ cấp. Đó là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh và người ốm đau hoặc những người không may gặp tai nạn nghề nghiệp; giữa những người đang làm việc và người nghỉ việc; giữa những người chưa có con và những người có gánh nặng gia đình. 11 + Phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản, sức mua của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập thấp thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH. Thứ ba, BHXH là thực thi chính sách xã hội, đảm bảo an toàn và hiệu quả xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh.
+ Thay thế hoặc bù đắp những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu cho NLĐ và gia đình họ. + Chăm sóc sức khỏe và chống lại bệnh tật của bản thân NLĐ. + Đảm bảo điều kiện sống tối thiểu để NLĐ không lâm vào túng quẫn, góp phần bảo đảm hạnh phúc gia đình và an toàn xã hội. Thứ tư, BHXH phải theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, đảm bảo sự công bằng và bền vững của hệ thống BHXH.
Nguyên tắc có đóng, có hưởng thể hiện bản chất kinh tế của hoạt động bảo hiểm đó là NLĐ muốn được hưởng chế độ BHXH thì cần phải tự nguyện tham gia đóng góp vào quỹ BHXH theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc này biểu hiện tính minh bạch, công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng tham gia đóng góp xây dựng quỹ bảo hiểm. Nghĩa là, muốn được hưởng quyền lợi bảo hiểm trước hết phải là những người tham gia bảo hiểm, có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm, quỹ BHXH không chi trả chế độ trợ cấp cho người không tham gia đóng góp xây dựng quỹ. Thứ năm, BHXH thực hiện phân phối trên cơ sở mức đóng góp vào quỹ BHXH, tỷ lệ đóng góp và mức hưởng trợ cấp có mối quan hệ chặc chẽ với tiền lương (thu nhập) của người được hưởng bảo hiểm.
Ở hầu hết các nước trên thế giới, khoản đóng góp của NLĐ được tính theo tỷ lệ % với tiền lương của họ. Vai trò của BHXH - Đối với NLĐ: BHXH là một trong những chính sách an sinh - xã hội của Nhà nước, góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ khi gặp rủi ro, khắc phục những khó khăn thông qua các khoản trợ cấp được chi trả bằng nguồn quỹ BHXH. Trong cuộc sống hàng ngày, khi NLĐ không may gặp rủi ro như thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh 12 nghề nghiệp, già yếu hay tử tuất - những rủi ro luôn rình rập NLĐ ở khắp mọi lúc mọi nơi. Đặc biệt, khi xã hội ngày càng phát triển thì những rủi ro này sẽ xảy ra càng nhiều hơn, khi rủi ro xảy ra làm tinh thần và nguồn thu nhập của NLĐ cũng sẽ bị giảm sút.
Lúc này, dựa trên cơ sở mức đóng BHXH mà trước đó NLĐ đã đóng góp vào quỹ BHXH, cơ quan BHXH sẽ góp phần ổn định đời sống của NLĐ bằng cách thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập bị giảm sút hoặc mất đi, tạo cho NLĐ điều kiện thuận lợi giúp họ ổn định phần nào cuộc sống và yên tâm công tác. Hoặc khi NLĐ hết tuổi lao động, họ không thể đi làm để kiếm thêm thu nhập thì BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng có hưởng sẽ chi trả tiền lương hưu cho NLĐ theo tỷ lệ quy định hiện hành của Nhà nước đến khi chết. - Đối với người SDLĐ: Trường hợp NLĐ không may gặp tai nạn rủi ro, ốm đau, thai sản nguồn thu nhập bị giảm sút thì BHXH sẽ thay đơn vị SDLĐ trả một khoản tiền trợ cấp trong khoảng thời gian NLĐ không đi làm tạm thời. Như vậy, BHXH đã góp phần làm giảm gánh nặng cho đơn vị khi NLĐ không đi làm việc và nhờ đó còn giúp NLĐ có điều kiện nhanh chóng quay trở lại tham gia vào quá trình sản xuất.