Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội đối với lao động khu vực phi chính thức ở Việt Nam Chương 2: Pháp luật bảo hiểm xã hội đối với lao động khu vực phi chính thức ở một số quốc gia dưới góc nhìn so sánh trong tương quan quy định ở Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội đối với lao động khu vực phi chính thức và nâng cao hiệu quả thực hiện từ kinh nghiệm của một số quốc gia 5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo trong quá trình hoàn thiện và thực hiện pháp luật BHXH đối với lao động khu vực phi chính thức. Việc nghiên cứu đề tài mang lại những kết quả và đóng góp mới cơ bản sau đây: - Nghiên cứu tông quát dé giải quyết và làm sáng tỏ hơn các van dé chung về ly luận của quy định pháp luật BHXH đối với lao động khu vực phi chính thức. - Đưa ra những quan điểm đánh giá, nhận định về quy định pháp luật BHXH đối với lao động khu vực phi chính thức - So sánh dé chỉ ra được những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật BHXH Việt Nam với pháp luật BHXH đối với lao động khu vực phi chính thức của các nước Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, đồng thời dựa vào cơ sở so sánh và học tập hệ thống pháp luật BHXH của các quốc gia trên thế giới làm cơ sở cho những luận giải kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHXH.
- Đề tài có ý nghĩa ứng dụng trong hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về BHXH đối với lao động khu vực phi chính thức trong bối cảnh đang hoàn thiện các quy định pháp luật theo định hướng phát trién BHXH bao phủ toàn dân của Việt Nam. - Công trình nghiên cứu có ý nghĩa, giá trị quan trọng trong hoạt động học tập, nghiên cứu chuyên sau lĩnh vực pháp luật ASXH, BHXH ở Đại học Luật Hà Nội và các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật khác. - Đề tài có giá tri là nguồn tài liệu cung cấp kiến thức và hỗ trợ cho hoạt động lập pháp trong bối cảnh lấy ý kiến sửa đổi bổ sung Luật BHXH hiện hành. CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TRANG PHAP LUAT BAO HIEM XA HOI DOI VOI LAO DONG KHU VUC PHI CHINH THUC O VIET NAM 1.
Một số van đề lý luận về bảo hiểm xã hội va pháp luật bảo hiểm xã hội đối với lao động khu vực phi chính thức 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Trong hoạt động của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển thì trước hết phải lao động. Tuy nhiên, phải thừa nhận răng, trong quá trình lao động đó, con người không phải lúc nào cũng gặp được thuận lợi, mà đôi khi phải gặp những khó khăn, bat lợi làm suy giảm khả năng hoặc mất sức lao động như ốm đau, bệnh tật, tudi già,. Chính vì vậy, dé vượt qua những biến có phát sinh, từ lâu người ta thường áp dụng các biện pháp phòng ngừa và biện pháp khắc phục hậu quả khác nhau.
Trong đó, biện pháp hữu hiệu nhất là thành lập các quỹ dự trữ và tiến hành bảo hiểm tập trung trên phạm vi toàn xã hội, mà hiện nay được gọi là bảo hiểm xã hội. Hệ thông BHXH đầu tiên trên thé giới đã được ra đời vào giữa thế ky XIX, là công trình của Chính phủ Đức đưới thời Thủ tướng Bismark, sau đó lan dần sang Châu Âu và các nước khác. Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và khái niệm về BHXH cũng được các nhà khoa học tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau: Dưới góc độ kinh tế: BHXH là sự đảm bảo thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập đối với NLD khi ho gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mat đi khả năng lao động, mat việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm bảo đảm đời sống cho NLD và gia đình họ, góp phan bao đảm an toàn xã hội.! Dưới góc độ xã hội: Theo Tô chức lao động quốc tế (ILO): BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với tất cả các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng đề đối phó với những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng việc hoặc bị giảm bớt nhiều về thu nhập, gây ra bởi 6m dau, gây mat khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và tự cấp cho các gia đình đông con.” Dưới góc độ pháp ly: Chễ độ BHXH là tổng hợp những quy định của Nhà nước, quy định các hình thức dam bảo điều kiện vật chất và tinh thần cho NLD và trong một số trường hop là thành viên gia đình họ khi bị giảm hoặc mat khả năng lao động?. ! Trường Dai học Kinh tế quốc dân (2008), Giáo trình bảo hiểm, NXB Dai học kinh tế quốc dan , tr15 2 TLO (1999), “Social security priciples ”, ISBN92-2-110734-5 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật ASXH, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 114 Về cơ bản ở Việt Nam, khái niệm BHXH duoc rất nhiều tài liệu khoa học, giáo trình thuộc các chuyên ngành khác nhau nghiên cứu.
Một khái niệm chung chính thức nhất về “bảo hiểm xã hội” hiện nay đã được pháp luật Việt Nam quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập của NLD khi họ bị giảm hoặc mat thu nhập do 6m dau, thai sản, tai nạn lao dong, bénh nghé nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quy bảo hiểm xã hội. ” Cho đến nay, trải qua một quá trình phát triển, BHXH được xác định như một quyền cơ ban của NLD. Vì vậy, BHXH được coi là có một số đặc trưng cơ bản như sau: (i) Có đối tượng là thu nhập của NLD; (ii) Mang nặng tinh xã hội, tính chất trợ cấp ôn định và lâu dai; (iii) Tài chính đảm bảo thực hiện được đóng góp bởi NLD và NSDLD (iv) Dat dưới sự bảo trợ của Nhà nước. Những đặc trưng này cũng là căn cứ để phân biệt BHXH với một loại hình bảo hiểm khác cũng thuộc hệ thống bảo vệ chung quốc gia, đó là bảo hiểm thương mại.
Mặc dù đều có tính chất phục vụ và giống nhau ở mục đích cuối cùng là góp phần đảm bảo tái sản xuất xã hội diễn ra bình thường, đời sống các thành viên xã hội an toàn và ôn định, nhưng ở bảo hiểm thương mại mục đích kinh doanh thê hiện rat rõ ràng. Bên cạnh đó, phạm vi áp dụng của bảo hiểm thương mại cũng rất rộng lớn và can thiệp của Nhà nước vào hoạt động bảo hiểm thương mại chỉ có giới hạn nhất định và đương nhiên tài chính thực hiện không được đặt dưới sự bảo trợ của Nhà nước. Khái niệm pháp luật bảo hiểm xã hội Đối với cuộc đời mỗi người, không thể tránh khỏi những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình lao động, sản xuất và biện pháp chấp nhận rủi ro là biện pháp được sử dụng phố biến trong quá khứ. Họ có thé lập quỹ dự phòng dé chủ động bù đắp, khắc phục những tôn thất do biến có rủi ro gây nên mà không nhận được bất kì sự san sẻ, trợ giúp nào của các cá nhân, tổ chức khác.
Tuy nhiên, dưới sự thay đôi của cơ cau xã hội cũng như sự phát triển của quá trình lao động, biện pháp có tính truyền thong này đã không thé giúp các cá nhân khắc phục rủi ro phát sinh trong xã hội hiện đại. Vì vậy, đời song xã hội cần một cơ chế an toàn hơn, đó là sự quản ly và chia sẻ rủi ro có tính đảm bảo cao từ phía Nhà nước dé tat ca các thành viên đều được bảo vệ và những rủi ro của họ được chia sẻ trong phạm vi rộng rãi. Trước nhu cầu đó, những biện pháp phòng ngừa, né tránh và hạn chế rủi ro đã được con người chủ động thê chế hóa thành quy định cụ thê trong các văn bản pháp luật và hình thành pháp luật BHXH. Nhu vậy, pháp luật BHXH là hệ thong các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình đóng góp và chỉ trả các chế độ bảo hiểm xã hội.
Hầu hết ở các quốc gia trên thế giới, pháp luật BHXH là những quy định chung, rất khái quát cả về đối tượng, phạm vi, các mỗi quan hệ và những giải pháp nhằm dat được mục tiêu chung đã đề ra đối với BHXH. Trong đó, chế độ BHXH là một phần quan trọng trong pháp luật BHXH, là hệ thống các quy định pháp luật hóa về đối tượng được hưởng, nghĩa vụ, mức đóng góp cho từng trường hợp BHXH cụ thé. Theo khuyên nghị của ILO đã nêu trong Công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơ-ne-vơ, hệ thống các chế độ BHXH bao gồm: (i) Chăm sóc y tế; (ii) Trợ cấp 6m đau; (iii) Trợ cấp thất nghiệp; (iv) Trợ cấp tuổi già; (v) Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghé nghiệp; (vi) Trợ cấp gia đình; (vii) Trợ cấp sinh đẻ; (viii) Trợ cấp khi tàn phé; (ix) Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mat người nuôi dưỡng). Các chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH theo quy định của ILO.
Tùy điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi thành viên tham gia Công ước Gio-ne-vo thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng it nhất phải thực hiện được 3 chế độ và phải có ít nhất một trong năm chế độ: (iii); (iv); (v); (viii); (ix)*. Vì vậy, pháp luật hiện hành về BHXH nước ta cũng quy định về các chế độ đảm bảo yêu cầu của Công ước Giơ-ne-vơ, tuy nhiên có rất nhiều cách phân loại BHXH. Trong đó, phân loại theo hình thức là cách tiếp cận cơ bản nhất được pháp luật quy định chia BHXH thành hai loại: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. BHXH bat buộc là loại hình BHXH mà NLD và NSDLD bắt buộc phải tham gia.
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật BHXH năm 2014, NLD tham gia BHXH bat buộc được hưởng Š chế độ sau: Bảo hiểm 6m đau, thai sản, TNLD — BNN, hưu trí và tử tuất.