Chương 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN PHÁP LUAT VE CHE ĐỘ TỬ TUẤT 1. Một số van đề lý luận về chế độ tử tuất 1. Khái niệm chế độ tử tuất 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội BHXH là một trong những trụ cột của chính sách an sinh xã hội đối với mỗi quốc gia.
Đây là lĩnh vực rất nhiều các quốc gia quan tâm và chú trọng, vì muốn phát triển kinh tế phải đảm bảo an sinh xã hội, mà trong đó BHXH là một vấn đề vô cùng quan trọng. Trên thế giới, thuật ngữ BHXH đã xuất hiện từ khoảng thé ky XIII tại Châu Âu, vảo giai đoạn nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phát triển. Vào thời điểm đó, nhu cầu thuê mướn, sử dụng lao động pho biến, người lao động là bộ phận chính tạo ra của cải, vật chất cho xã hội. Tuy nhiên, lực lượng này bị đối xử vô cùng bat công, các chế độ cũng như phúc lợi của người lao động rất thấp, điều kiện an toàn lao động không đảm bảo, dẫn tới nhiều tai nạn lao động xảy ra.
Mặc dù giai cấp công nhân đã liên kết với nhau để tạo nên các phong trào tự phát đòi quyền lợi, tự đóng góp và lập quỹ cứu trợ lẫn nhau nhưng không đạt được kết quả nao do bị giai cấp tư bản đàn áp. Sau đó, nhà nước phải can thiệp và điều hòa mâu thuẫn này, đưa ra chính sách yêu cầu cả giai cấp tư sản, giai cấp công nhân phải đóng góp một khoản tiền để hỗ trợ nhu cầu sống tối thiểu của người lao động. Nguồn quỹ này dần được duy trì, phát triển và có khả năng giải quyết các vấn đề đã đặt ra. Day là nguồn gốc sự hình thành Quỹ Bảo hiểm xã hội trên thế giới.
Năm 1883, chế định bảo hiểm xã hội đầu tiên ra đời tại phổ (tức Cộng hòa liên bang Đức hiện nay) với tên gọi Luật Bảo hiểm ốm đau. Ngày 04/06/1952, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã ký Công ước Geneva 102 (Công ước sé 102 vê Quy phạm tôi thiêu vê an toàn xã hội), trong Công ước quy định các nước thành viên khi tham gia vào công ước phải thực hiện theo nội dung đã cam kết, tiến hành BHXH cho các đối tượng được hưởng theo công ước và gia đình của họ. Ở Việt Nam, giai đoạn trước năm 1945, chưa có pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội chỉ là trạng thái sơ khai thể hiện qua truyền thống cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau của nhân dân khi gặp rủi ro, hoạn nạn, đặc biệt là sự che chở nhau trong các họ hang, làng xã, thân tộc. Năm 1946, ban Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam ra đời, có xác định quyền được trợ cấp của người tàn tật và người già.
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 29/SL quy định chế độ trợ cấp cho công nhân ngày 12 tháng 3 năm 1947 và 02 sắc lệnh số 76/SL, 77/SL quy định thực hiện các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí cho cán bộ, công nhân viên chức ngày 20 tháng 5 năm 1950. Mặc dù pháp luật về BHXH vào thời điểm đó còn rất hạn chế do hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, nhưng nó là cơ sở cho sự phát triển của BHXH sau này tai đất nước ta. Pháp luật về BHXH ở nước ta được phát triển, mở rộng nhanh từ thời điểm miền Bắc được giải phóng và xây dựng chủ nghĩa xã hội. BHXH được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, trong đó có ba góc độ được quan tâm nhiều nhất đó là góc độ kinh tế, xã hội và pháp luật: Dưới góc độ kinh tế, BHXH là một khoản bù đắp và thay thế khoản thu nhập của NLD khi họ bị giảm hoặc mat thu nhập dé đảm bảo 6n định cuộc sông cho bản thân và gia đình của NLD.
NLD đóng góp một khoản tiền vào quỹ BHXH, khi họ gặp rủi ro, khó khăn như tai nạn lao động, ốm đau, bệnh tật, thất nghiệp, quỹ này sẽ thực hiện chức năng hỗ trơ bù đắp phần thu nhập cho họ [20]. Dưới góc độ xã hội, BHXH là một trong những biệp pháp đảm bảo an sinh xã hội, đảm bảo sự bảo vệ của xã hội, của nhà nước đôi với người lao 10 động thông qua những “công cụ” hỗ trợ giảm bớt khó khăn về kinh tế do bị giảm hoặc ngưng thu nhập khi NLD bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tuổi già, chết,. Sự bảo vệ này không chỉ đành cho NLD mà còn đối với cả nhân thân của NLD, những người đang phụ thuộc vào NLD đó [17]. Dưới góc độ pháp luật, BHXH là tổng hợp các quy định của pháp luật về các van đề liên quan đến BHXH, bao gồm: quyên, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên khi tham gia vào quan hệ BHXH; mức đóng góp; phương thức đóng góp và mức hưởng đối với những đối tượng áp dụng BHXH.
Những quy định này nhằm bảo vệ NLĐ bằng cách sử dụng nguồn đóng góp của NLĐ và NSDLĐ, cùng với nguồn tài trợ của Nhà nước dé hỗ trợ về mặt vat chất cho NLD được bảo hiểm hoặc nhân thân của họ khi NLD có thai sản, hết tuổi lao động hoặc không may bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chết. Có thé thấy rang, qua cả ba phương diện trên, BHXH đều nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của NLĐ khi có biến cố xảy ra. Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế ILO: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mắt hoặc giảm thu nhập gây ra bởi 6m đau, mat khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết. Hơn nữa BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khỏe va trợ cấp cho các gia đình khi can thiết ”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “BHXH là sự đảm bảo thay thé hodc bu dap mot phan thu nhập đối với NLD khi họ bi mất hoặc giảm thu nhập do 6m đau, thai sản, tai nan lao dong, bénh nghé nghiệp, tàn tật, that nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLD và gia đình họ, đồng thời góp phan dam bảo an toàn xã hoi” [16]. 11 Trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đưa ra khái niệm BHXH tại khoản 1 Điều 3 như sau: “BHXH là sự đảm bảo thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập cua NLD khi họ bị giảm hoặc mat thu nhập do ốm dau, thai sản, tai nan lao động, bệnh nghé nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ so đóng góp vào quỹ BHXH '. Từ những khái niệm nêu trên, khái niệm của Tổ chức Lao động quốc tế không đề cập đến nguồn quỹ sử dụng dé hỗ trợ NLD, trong khái niệm tại Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, có nguồn quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, còn khái niệm tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có quỹ BHXH. Mặc dù có sự khác biệt nhỏ đó nhưng có thé thấy mục đích của BHXHở cả ba khái niệm đề nhằm bảo hộ cho NLĐ, cụ thể là bảo hộ thu nhập cua NLD.
Khi thu nhập của NLD bị giảm hoặc bị mất do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, BHXH sẽ bù đắp khoản thu nhập đó cho NLD bang cách chi tra các khoản trợ cấp tương ứng với khó khăn mà NLĐ đó phải chịu theo quy định pháp luật cho chính NLD hoặc nhân thân của NLD đó. Tóm lại, BHXH là sự bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở tham gia và đóng góp vào quỹ BHXH. Khái niệm chế độ tử tuat Theo quy luật tự nhiên của cuộc sống, ai cũng phải trải qua bốn giai đoạn của cuộc đời: Sinh — Lão — Bệnh — Tử. Không phân biệt màu da, tôn giáo hay dân tộc, ai roi cũng sẽ phải đôi mặt với cái chêt.
Tuy nhiên, có thê do tác động khách quan hay chủ quan, ở bât kỳ giai đoạn nào, rủi ro xảy đên với mỗi người sẽ có những tác động khác nhau đến người thân của họ. Việc giúp đỡ gia đình của người chết thông qua việc hỗ trợ tiền mai táng và trợ cấp cho 12 thân nhân của họ là rất cần thiết vì giúp họ phần nào 6n định cuộc sống khi gap khó khăn. Sự hỗ trợ này theo pháp luật là chế độ BHXH tử tuất. Theo từ điển tiếng Việt, “tử” nghĩa là chết, “tuất” mang nghĩa rủ lòng thương mà cầu cứu, “tử tuất” có nghĩa là hỗ trợ, cứu giúp gia đình, người thân của người đã chết [15].
Có thể hiểu một cách khái quát rang tử tuất là một trong các chính sách an sinh xã hội của nhà nước và được thé chế thành các quy định pháp luật. Quy định về chế độ tử tuất là quy định được thể chế hóa từ phong tục truyền thống của nhân dân Việt Nam: Tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn, với mục đích tạo nên quy định chung mang tinh thần chia sẻ của mọi người và kết nối giữa mọi người xung quanh với nhau, nhằm huy động sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng. Ngay từ Bộ luật Hồng Đức năm 1483 đã quy định về việc hỗ trợ một phần cho nhân thân người đã chết nhằm giúp họ từng bước ồn định cuộc sống sau khi mat đi nguồn thu nhập, và đến nay quy định đó vẫn được duy trì, phát huy trong các văn bản pháp luật tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Như vậy, có thê hiểu chế độ tử tuất là một trong các chế độ bảo hiển do quỹ bảo hiểm xã hội chỉ trả nhằm hỗ trợ hoặc thay thế một phan thu nhập bị mat cho thân nhân NLD là những người mà khi còn sống, NLD hoặc người đang hưởng bảo hiểm, đang chờ hưởng bảo hiểm có trách nhiệm nuôi dưỡng.
Đặc điểm của chế độ tử tuất Thứ nhất, ché độ tử tuất được áp dụng trong trường hợp người đang và đã tham gia BHXH chết.