Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Chính sách giao đất lâm nghiệp của các nước trên thế giới Tại Châu Âu, quản lý lâm nghiệp ở quy mô hộ gia đình trang trại (Smallholder) là hình thức quản lý rừng cộng đồng chủ yếu ở châu Âu, nó đã là một phần không thể thiếumột phần của quản lý rừng ở hầu hết các nước trong khu vực từ nhiều đời nay (Gilmour, 2016). Hirsch & Schmithüsen (2010) thông qua báo cáo điều tra chủ quản lý rừng tại 23 nước châu Âu (trừ Nga) sở hữu tư nhân chiếm tới 50% rừng và đất rừng trong đó tổng số 80% quản lý bởi cá nhân và hộ gia đình. Tính đến năm 2004 có tới 15 triệu ha rừng do chủ sử hữu là các hộ gia đình trên 23 quốc gia châu âu (Gilmour, 2016). Tuy nhiên, tỉ lệ cơ cấu giữa sở hữu nhà nước và tư nhân về rừng và đất rừng thay đổi giữa các quốc gia.
Chẳng hạn, Áo, Pháp, Na Uy và Slovenia sở hữu tư nhân chiếm tới trên 3/4 tổng diện tích rừng và đất rừng. Ngược lại tỉ lệ này ở Bungari, Cộng Hòa Séc, Ba Lan và Romania nhỏ hơn 1/4. Trong khi đó, một số quốc gia bao gồm một số ở miền Trung và Đông Âu thì 2 tỉ lệ này là cân bằng. Mặt khác, chủ rừng tư nhân với diện tích đất rừng nhỏ chiếm ưu thế, với trên 61% chủ rừng tư nhân có diện tích nhỏ hơn 1ha và 86% chủ rừng tư nhân có diện tích nhỏ hơn 5 ha.
Trong khi đó chỉ có 1% chủ rừng có diện tích trên 50 ha (F. Cụ thể: Thụy Điển: Nhà nước quản lý 25% diện tích rừng và đất rừng, các công ty lớn sở hữu 25%, còn lại 50% diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu của các hộ tư nhân. Những khu rừng ở Thụy Điển đã tồn tại hơn một trăm năm; không có phá rừng và thông qua quan sát lượng sinh khối tích lũy trong các khu rừng tăng lên rõ rệt. Các khu rừng được các chuyên gia coi là được quản lý tốt cả về hiệu quả và bảo tồn đa dạng sinh học.
Tính đến năm 2000, tại Thủy Điển có tới 25 000 cổ đông tham gia sở hữu rừng và đất rừng (Carlsson, 1999). Phần Lan: Sở hữu tư nhân về rừng và đất rừng ở Phần Lan mang tính truyền thống, có tới hai phần ba diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu tư nhân và có khoảng 430.000 chủ rừng, bình quân mỗi chủ rừng sở hữu 33 ha. Đặc biệt, có trên 600.000 3 hộ gia đình quản lý tới 62% diện tích rừng của quốc gia. Tại các nước Nam Mỹ, hệ thống quản lý rừng theo hướng tự chủ cho các chủ rừng được khởi xướng chiếm ưu thế các khu vực ở Nam Mỹ, đặc biệt là trong các khu rừng ở lưu vực sông Amazon (Hajost & Zerbock, 2013).
Quản lý rừng cộng đồng có lịch sử lâu đời tại Mexico, với trên 80% diện tích rừng được quản lý bởi cộng đồng (Bray & Merino-Pérez, 2002). Mexico đã được hưởng lợi từ việc kết hợp giữa các quyền sở hữu với các quyền thương mại và tiếp thị sản phẩm gỗ trên thị trường thế giới (Hajost & Zerbock, 2013), với hơn 3000 cộng đồng trên khắp đất nước xây dựng được kế hoạch phương án quản lý rừng bền vững (F. Gần đây có rất nhiều chính sách liên quan đến quản lý rừng cộng đồng đã được thay đổi tại khu vực Mỹ Latinh ((FAO, 2014). Năm 2010, tại Guatemala đã triển khai chương trình khuyến khích sự tham gia các gia đình trong quản lý rừng và xây dựng mô hình nông lâm kết hợp.
Trong đó, tại Brazil năm 2009 đã chính thức đưa chính sách về quản lý rừng cộng đồng và hộ gia đình vào hệ thống pháp luật nhà nước. Chính sách cung cấp các ưu đãi để các cộng đồng địa phương xây dựng kế hoạch quản lý rừng; người ta ước tính rằng nó đã thu hút sự tham gia của gần 60% cư dân sống gần 210 triệu ha rừng (512 nghìn người bản địa, 3500 người gốc Phi và 545 nghìn gia đình định cư). Trong khi đó ở Peru, chính phủ đã hỗ trợ 4 USD cho mỗi một hectare các hộ gia đình tham gia quản lý rừng bền vững, điều này cho thấy sự thay đổi chính sách theo hướng khuyến khích quản lý rừng cộng đồng như một công cụ để bảo tồn tài nguyên rừng. Theo Hajost & Zerbock (2013) thì tại Mỹ latin cộng đồng hiện đang quản lý 216 triệu ha rừng tương ứng với 1/3 tông diện tích rừng và đất rừng.
Tương tự, Rights và cộng sự (2014) báo cáo tỉ lệ đất rừng dưới quyền cộng đồng quản lý tại khu vực này là 39% và kết quả này đồng nhất với báo cáo của Pacheco (2012) thể hiện ở bảng 1. Dữ liệu cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia trong khu vực về cơ cấu sở hữu rừng và đất rừng. Ví dụ, Colombia, Ecuador, Mexico, Nicaragua và Bolivarian Cộng hòa Venezuela đều có từ 50% trở lên diện tích đất rừng thuộc quyền quản lý của cộng đồng, trong khi Guiana thuộc Pháp và Guatemala có ít hơn 15% đất rừng dưới sự kiểm soát của cộng đồng. Brazil có tổng diện tích rừn lớn nhất được giao 4 cho cộng đồng khoảng 134 triệu ha, tương đương chiếm khoảng 26% tổng diện tích rừng cả nước Tại Bắc Mỹ, giống như ở Châu Âu thì quản lý rừng cộng đồng phổ biến ở cả Canada và Mỹ là lâm nghiệp quy mô nhỏ (các khu rừng thuộc sở hữu tư nhân) và có lịch sử lâu đời ở cả hai đất nước.
Các hình thức hợp tác quản lý rừng, thường được đề cập trong các các quốc gia là “lâm nghiệp cộng đồng” hoặc “lâm nghiệp dựa vào cộng đồng”. Diện tích rừng giao cho cộng đồng tại quốc gia Mỹ latinh Diện tích rừng Rừng cộng đồng Rừng cộng đồng Quốc gia (triệu ha) (triệu ha) (%) Bolivia 57.3 Ở Canadia duy nhất chỉ có 8% diện tích rừng thuộc quyền sở hữu tư nhân trong đó 84% là cá nhân (FAO, 2010). Lâm nghiệp trang trại ở Canada bao gồm tổng cộng 19 triệu ha rừng và sản xuất khoảng 27 triệu mét khối gỗ mỗi năm chiếm 14% sản lượng khai thác gỗ của đất nước. Rừng quy mô nhỏ cũng góp phần duy trì các chức năng phòng hộ đầu nguồn và môi trường sống của động vật hoang dã, cùng với vai trò tạo cảnh quan cho ngành du lịch giải trí (Wyatt & Bourgoin, 2010).
Đã có 116 dự án lâm nghiệp cộng đồng ở Canada, chủ yếu ở các tỉnh British Columbia, Ontario và Quebec hoạt động thông qua các tổ chức chính quyền địa phương. Trong đó 60% hoạt động trên đất ở các đảo, trong khi 40% còn lại trên đất liền thuộc sở hữu của chính 5 quyền địa phương. Diện tích trung bình của các khu rừng cộng đồng này là 4 200 ha (diện tích trung bình khu rừng là 14300 ha) và tuổi rừng trung bình là 10 năm. Tổng số diện tích rừng cộng đồng được thống kê là 1,56 triệu ha.
Trong số các dự án rừng cộng đồng, có tới 60 phần trăm được đánh giá là có khả năng tự cung cấp tài chính và 9% có sự tham gia của những người bản địa (Wyatt & Bourgoin, 2010). Ở Mỹ, 58% diện tích rừng (179 triệu ha) nằm trong quyền quản lý của tư nhân, trong đó 69% thuộc cá nhân quản lý (FAO, 2015).3 triệu gia đình và cá nhân quản lý 105 triệu ha rừng và đóng góp 50% sản lượng gỗ toàn quốc gia (Zhang et al. Đầu những năm 2000 đã có hơn 13 dự án lâm nghiệp cộng đồng được triển khai tại Mỹ dưới sự hỗ trợ của quỹ Forrd, đã thu được thành quả to lớn về mặt lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Melanie, 2009; Melanie & Schreckenberg, 2009). Tại châu Phi, quản lý rừng cộng đồng đã được triển khai tại hơn 35 quốc gia trong khu vực, nhiều quốc gia trong số đó đã ban hành nhiều chính sách và công cụ hỗ trợ giao đất cho cộng đồng và dân cư.
Theo số liệu thống kê có tới 5000 cộng đồng tham gia vào công tác quản lý rừng tại 100 vườn quốc gia và hơn 1000 khu bảo tồn tại đây (Gilmour, 2016). Theo Rights et al. (2014) dựa vào dữ liệu thu thập từ 12 quốc gia ở châu Phi diện tích rừng cộng đồng quản lý là khoảng 6% (bảng 1. Diện tích rừng giao cho cộng đồng tại quốc gia Châu Phi Diện tích rừng Rừng cộng đồng Rừng cộng đồng Quốc gia (triệu ha) (triệu ha) (%) Angola 58.1 DRP of the 154.1 Nhìn chung, quản lý rừng cộng đồng ở các quốc gia châu phi còn tương đối mới, các dự án rừng cộng đồng mới được cách đây khoảng 10 năm và vẫn đang trong quá trình thực hiện.
Hầu hết các dự án nguồn kinh phí do nhà tài trợ bên ngoài, thường có sự hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ quốc tế, và quản lý rừng cộng đồng đã được đưa vào các chính sách, văn bản của chính phủ ở các quốc gia đặc biệt là tại Tanzania với 67% diện tích đất rừng thuộc cộng đồng địa phương quản lý (Rights et al. Quản lý rừng cộng đồng bắt đầu ở Châu Á và Thái Bình Dương vào những năm 1980 dưới hình thức các sáng kiến địa phương, phần lớn đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và và mối quan tâm của chính phủ về nạn suy thoái rừng (Gilmour, 2016). Theo dữ liệu thống kê 16 quốc gia trong khu vực, tổng cộng 185 triệu ha đất rừng giao cho cộng đồng quản lý, chiếm 34 phần trăm tổng diện tích đất rừng, số liệu thể hiện bảng 1. Diện tích rừng giao cho cộng đồng tại Châu Á, Thái Bình Dương Diện tích rừng Rừng cộng đồng Rừng cộng đồng Quốc gia (triệu ha) (triệu ha) ( %) Australia 123 41.87 34 Nhật Bản: Có ba hình thức sở hữu đất lâm nghiệp, đó là sở hữu Nhà nước, sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân: Nhà nước sở hữu 7,84 triệu ha, chiếm 31,2% rừng và đất rừng của cả nước, những diện tích rừng và đất rừng này chủ yếu ở những nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình hiểm trở,.
Các tổ chức chính quyền địa phương sở hữu trên 2,7 triệu ha, chiếm 10,74%. Các công ty tư nhân và các HGĐ sở hữu 14,6 triệu ha, chiếm 58,10%. Có tới 88% chủ rừng là các hộ tư nhân, trong số đó 89% là những người có từ 0,1 ha – 5 ha đất lâm nghiệp; 10,7% là những chủ hộ tư nhân có từ 5 ha - 50 ha còn lại 0,4% là những chủ hộ tư nhân có trên 50 ha đất lâm nghiệp.