Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm đất lâm nghiệp Theo điều 1 Luật bảo vệ và phát triển rừng: Đất lâm nghiệp bao gồm: Đất có rừng và đất không có rừng. - Đất có rừng là một bộ phận của tài nguyên thiên nhiên hữu hạn có khả năng phục hồi bao gồm các thành phần quần lạc sinh địa (hay hệ sinh thái) rừng như: trữ lượng lâm sản và đất đai mà trên đó có rừng, sản phẩm phụ của rừng và các lâm phần có các yếu tố bảo vệ, điều tiết nước, vi sinh vật… tức là những lợi ích của đất có rừng mang lại. - Đất không có rừng là đất được quy hoạch để gây trồng rừng nhưng chưa có rừng.
Luật đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, năm 2001 thì đất lâm nghiệp được định nghĩa như sau: Đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp. Khi Luật đất đai năm 2003 ra đời đất lâm nghiệp được quy định là một bộ phận của đất nông nghiệp bao gồm diện tích đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp bao gồm đất đã có rừng tự nhiên, đất rừng trồng, đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp. Tại Điều 3 Thông tư số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29/01/2011 của Liên bộ Bộ Nông nghiệp phát triển Nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng; đất mới trồng rừng nhưng chưa thành rừng; đất đang trồng rừng hoặc đã giao, cho thuê để trồng rừng và diện tích đất trống trong các khu rừng đặc dụng hoặc diện tích đất trống được bảo vệ trong các khu rừng khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng”. Như vậy, đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp, gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng để phuc hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 1. Đối tượng được giao đất lâm nghiệp Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho các đối tượng sau: - Tổ chức của Nhà nước gồm: Các Ban quản lý khu rừng phòng hộ, khu rừng đặc dụng; các doanh nghiệp lâm, nông, ngư; các trạm, trại, xí nghiệp giống lâm nghiệp; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang; các trường học, trường dạy nghề và các tổ chức kinh tế Nhà nước khác. - Tổ chức không phải của Nhà nước, gồm: Các tổ chức kinh tế và các tổ chức xã hội được thành lập theo luật pháp hiện hành của Nhà nước. - Làng, bản nơi còn có tập tục suy tôn già làng, trưởng bản đại diện cho các cộng đồng hoặc các dòng họ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng cao.
- Hộ gia đình và cá nhân thường trú hoặc tạm trú hợp pháp tại địa phương được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận. Nguyên tắc giao đất lâm nghiệp Trong quá trình tiến hành giao đất lâm nghiệp, cần thực hiện những nguyên tắc chính sau đây: Đất đai là tài sản quốc gia, thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp. Vì vậy, khi tiến hành giao đất lâm nghiệp, phải thực hiện đầy đủ những quy định của Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các Nghị định, cũng như các văn bản hướng dẫn của các cơ quan, địa phương liên quan về giao đất lâm nghiệp.
Giao đất lâm nghiệp cho các chủ sử dụng nhằm đạt mục tiêu là tổ chức lại sản xuất ở trung du và miền núi, bảo vệ tài nguyên rừng được tốt hơn, từng bước ổn định và phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân. Vì thế, trước khi tiến hành giao đất lâm nghiệp nhất thiết phải xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai của xã. Trường hợp trên địa bàn xã đã có quy hoạch rồi thì chỉ cần rà soát lại, nếu xét thấy bất hợp lý cần được bổ sung kịp thời. Trong quy hoạch xác định rõ: đâu là đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, cây ăn quả hoặc đất chăn thả; đâu là đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên cần bảo vệ, đất rừng khoanh nuôi phục hồi, đất trống cần trồng rừng.
Khi xác định các loại đất đai cho sản xuất cần ưu tiên dành đủ đất để trồng cây hàng năm và làm nông - lâm kết hợp nhằm đảm bảo đủ lương thực cho người dân sống trên địa bàn xã. Việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai của xã phải được thảo luận với chính quyền địa phương và với người nông dân địa phương, tránh áp đặt từ trên xuống. Cuối cùng quy hoạch này phải được chính quyền sở tại xem xét phê duyệt phù hợp với quy hoạch tổng thể về sử dụng đất đai của huyện đã được ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Lấy địa bàn xã làm đơn vị để giao toàn bộ quỹ đất lâm nghiệp cho các tổ chức của Nhà nước, hộ gia đình và cá nhân, đảm bảo đất lâm nghiệp có chủ cụ thể.
Việc giao theo kiểu da báo không khép kín trên địa bàn xã như trước đây, dẫn đến những nơi nào rừng chưa được giao thì nơi đó dễ dàng bị phá. Mặt khác, do làm manh mún nên đã gặp không ít khó khăn khi tổ chức lại sản xuất trên địa bàn toàn xã; đặc biệt chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cộng đồng dân cư trên địa bàn cùng nhau tham gia bảo vệ rừng. Song, không vì thế mà nôn nóng vội vàng. Tiến độ giao đất lâm nghiệp phải phù họp với năng lực quản lý rừng và đất lâm nghiệp của chính quyền huyện, xã và nhận thức của dân.
Vì thế, nơi nào đó người dân chưa có nhu cầu nhận hết diện tích đất lâm nghiệp của xã hoặc chưa có đủ vốn để đầu tư phát triển sản xuất nghề rừng thì không ép buộc dân phải nhận hoặc giao cho xong theo kiểu "thanh toán chủ trương". Có thể phân chia thành 2 bước: Trước tiên giao nhận đất trên thực địa, xác lập được chủ đất chủ rừng để người dân sản xuất ổn định, đồng thời có đủ thời gian để điều chỉnh những sự bất hợp lý, đảm bảo đoàn kết nội bộ nông thôn. Sau đó, mới làm các thủ tục địa chính để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu trên địa bàn xã có các doanh nghiệp của Nhà nước hiện đang quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp nhưng không có nhu cầu sử dụng đến thì rà soát lại và kiến nghị với cấp có thẩm quyền để điều chỉnh.
Diện tích đất lâm nghiệp mà do các hộ gia đình và cá nhân hiện đang sử dụng hợp pháp, không có sự tranh chấp đều được sử dụng, đồng thời làm thủ tục để xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Song nếu xét thấy bất hợp lý về số lượng và quy hoạch chung của xã thì cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với quỹ đất đai, quy hoạch sử dụng và đảm bảo công bằng xã hội. Khi tiến hành giao đất lâm nghiệp phải có sự bàn bạc và trao đổi dân chủ với từng người dân để họ tự nguyện tích cực tham gia. Chỉ giao đất hoặc rừng cho các hộ có đơn tự nguyên xin nhận đất, nhận rừng, hộ nào không có nhu cầu thì không giao, không áp đặt.
Giao theo nhu cầu và khả năng sử dụng đất đai của các chủ hộ, còn số nhân khẩu trong từng hộ là một căn cứ quan trọng để tham khảo trong khi giao. Đất lâm nghiệp được giao chuyên canh, trừ khi có vấn đề bất hợp lý; tránh xáo trộn không cần thiết, cố gắng giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất hoặc rừng của các hộ và làm các thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khế ước hay hợp đồng khoán cho họ. Trường hợp có hộ nào đó trong xã hiện đang sử dụng đất không đúng quy hoạch hoặc quá nhiều, quá ít thì cần phải điều chỉnh diện tích cho phù hợp quy hoạch sử dụng đất đai, phù hợp với quỹ đất của xã và số nhân khẩu của hộ đó. Sự tham gia người dân trong giao đất lâm nghiệp Việc giao đất lâm nghiệp là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc, do đó chỉ thiết kế từ bên ngoài mang tính chủ quan của cán bộ quản lý, kỹ thuật sẽ kém thích PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 ứng với điều kiện của người dân, cộng đồng do đó sẽ kém hiệu quả và không bền vững.
Vì vậy, giao đất lâm nghiệp cần tiến hành theo cách tiếp cận có sự tham gia trực tiếp của người dân, thôn bản trong suốt tiến trình từ chuẩn bị cho đến khi tổ chức giao trên thực địa. Tiếp cận có sự tham gia nhằm đạt được các yêu cầu sau trong giao đất lâm nghiệp: - Người dân tự nguyện, tự giác: Giao đất lâm nghiệp cần xem xét nhu cầu và nguyện vọng của người dân, cần đạt được sự cam kết của cộng đồng trong quản lý tài nguyên. - Phát huy truyền thống quản lý của cộng đồng và kiến thức bản địa: Giao đất lâm nghiệp thu hút sự tham gia của người dân nhằm phát huy tốt các mặt tích cực của truyền thống và các kiến thức quản lý tài nguyên thiên nhiên của các cộng đồng dân tộc thiểu số. Thông qua đó nâng cao năng lực quản lý, tổ chức của cộng đồng.
- Bảo đảm tính công bằng và hợp lý trong quy mô, vị trí, phương thức giao: Đất lâm nghiệp được giao có sự thống nhất và nhất trí trong cộng đồng, không gây nên mâu thuẫn, bảo đảm tính công bằng và hợp lý về quy mô diện tích, loại rừng, trạng thái rừng, vị trí giao cho các đối tượng nhận như hộ, nhóm hộ, dòng họ, thôn bản.