Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học và pháp lý của công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 1. Cơ sở khoa học Ngay từ ngày giành độc lập năm 1945, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc quản lý và sử dụng các loại đất như đất ở, đất nông nghiệp, đất công nghiệp. với các luật được đưa ra: Luật đất đai 1988, luật đất đai 1993, luật đất đai 2003 cùng với sự thay đổi liên tục nhằm hoàn thiện các chinh sách về đất đai, cũng như các chính sách phát triển khác để sao cho phù hợp với tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội của nước ta hiện nay [5].
Với diện tích đất tự nhiên của Việt Nam gần 33 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp chỉ có 24.560 ha, dân số trên 90 triệu người, bình quân đất tự nhiên trên đầu người là 4.9 m2 bằng 1/7 mức bình quân thế giới, đi kèm với sự phát triển không ngừng đó không thể chánh khỏi các tranh chấp về đất đai có thể phát sinh do lịch sử, các chính sách, chế độ từ trước để lại, với đó là sự gia tăng dân số nhanh chóng đất đang là vấn đề nóng hổi của Việt Nam nói chung và thế giới nói riêng. Các mâu thuẫn về đất đai được thể hiện thông qua các vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo. - Công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư là công việc bước đầu của quá trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo và những bức xúc của công dân về quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính hoặc những thắc mắc, tranh chấp… của người dân mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai là một trong 13 nội dung của công tác quản lý nhà nước về đất đai, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn, hành vi vi phạm pháp luật trong nội bộ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia vào quan hệ đất đai để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm phục hồi lại các quyền lợi bị xâm phạm, đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai.
e 5 - Với chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai thì tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai thường chỉ là vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc là quyền sử dụng liên quan đến địa giới hành chính hoặc quyền sử dụng liên quan đến tài sản. - Giải quyết mọi trường hợp tranh chấp về đất đai phải đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng về ruộng đất, đồng thời sửa lại theo đúng pháp luật những trường hợp xử lý không đúng. - Giải quyết các tranh chấp về đất đai phải nhằm mục đích phát triển sản xuất, ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân. - Gắn việc giải quyết các vấn đề về đất với tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa, mở mang ngành nghề, phân bố lại lao động, dân cư phù hợp với đặc điểm và quy định của địa phương.
Các văn bản của Nhà nước - Căn cứ Luật Đất đai 2003 ngày 26/11/2003[1] - Căn cứ Luật Đất đai 2013 ngày 29/11/2013[2]; - Căn cứ Luật khiếu nại năm 2011[3]; - Căn cứ Luật tố cáo năm 2011[4]; - Căn cứ Luật Thanh tra 2011[5]; - Căn cứ Luật Tiếp công dân 2013 ngày 25 tháng 11 năm 2013[6]; - Căn cứ Nghị định số181/2004/NĐ-CP ngày 29/04/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật đất đai 2003[7]; - Căn cứ Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai[8]; - Căn cứ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai [9]; - Căn cứ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư [10]; e 6 - Căn cứ Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai[11]; - Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013[12]; - Căn cứ Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về quy định về giá đất [13]; - Căn cứ Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất[14]; - Căn cứ Nghị định số 86/2011/NĐ - CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra[15]; - Căn cứ Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Khiếu nại [16]; - Căn cứ Nghị định 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Tố cáo [17]; - Căn cứ Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/04/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật Đất đai 2003[18]; - Căn cứ Thông tư số 04/2010/TT-TTCP ngày 26/08/2010 của Thanh tra Chính phủ về việc quy đinh quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn phản ánh, đơn kiến nghị liên quan đến khiếu nại tốt cáo[19]; - Căn cứ Thông tư 06/2013/TT-TCCP này 30/9/2013 quy định quy trình giải quyết tố cáo [20]; - Căn cứ Thông tư 07/2013 TT-TCCP ngày 31/10/2013 quy định về quy trình giải quyết khiếu nại hành chính [21]. Các văn bản của UBND tỉnh Thái Nguyên - Nghị quyết số 26/2009/NQ-HĐND ngày 12/12/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên V/v thông qua chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. - Quyết định số 01/2010/QĐ-UBND ngày 05/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; e 7 - Quyết định số 12/2011/QĐ-UBND ngày 15/3/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Đăng ký biến động về sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn với đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; - Quyết định số: 06/2011/QĐ-UBND ngày 10/02/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với từng loại đất trên địa bản tỉnh Thái Nguyên; - Quyết định số: 42/2011/QĐ-UBND ngày 26/08/2011 của UBND tỉnh TN về việc bổ sung một số nội dung QĐ số 06/2011/QĐ-UBND ngày 10/02/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên. - Chỉ thị số 18/CT-UBND ngày 26/7/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc tăng cường trách nhiệm và nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác giải quyết, khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai 1. Tranh chấp về đất đai Khái niệm Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai bên hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai [1] Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai [1] - Theo quy định của Luật Đất đai 2003, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án chỉ giới hạn trong phạm vi các tranh chấp mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50. Đối với người dân, khi có tranh chấp về đất đai mà không có giấy chứng nhận và hoặc các giấy tờ theo quy định thì cũng không có quyền lựa chọn cơ quan giải quyết nào khác ngoài UBND và cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường. Quy định này đã phần nào làm hạn chế quyền lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp của người dân, vừa tăng áp lực lên các cơ quan hành chính nhà nước.
e 8 - Những hạn chế trên đã được khắc phục bằng những quy định tại Luật Đất đai 2013. Tại khoản 1 Điều 203 quy định: Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Các giấy tờ quy định tại điều 100 Luật Đất đai 2013 vẫn giữ nguyên nội dung các quy định tại khoản 1, 2 và khoản 5 điều 50 Luật Đất đai 2003 và có sự bổ sung thêm một số trường hợp đó là: - Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ. - Giấy tờ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành; - Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này.
- Tại khoản 2 Điều 203 quy định: Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.