mở đầu cho việc hình thành đàm phán Hiệp định TPP về sau. Trong bài phát biểu tại Tokyo năm 2009, ông Obama đã nhấn mạnh sự ưu tiên của Hoa Kỳ trong tăng cường và duy trì vai trò lãnh đạo tại đây5, và tháng 11 năm 2011, chính quyền Obama đã đưa ra quan điểm về việc xoay 1 Lee Hudson Teslik, 11/03/2008, Council on Foreign Relations, Iraq, Afghanistan, and the U. Economy, truy cập vào ngày 27/12/2016, <http://www.org/afghanistan/iraq-afghanistan-us-economy/p15404>. 2 Mark Thompson, Time Magazine, 26/12/2008, The $1 Trillion Bill for Bush's War on Terror, số liệu từ GAO, CRS và CSBA, truy cập vào ngày 27/12/2016, <http://content.com/time/nation/article/0,8599,1868367,00.
3 Pew Research Center, 19/03/2008, Public Attitudes Toward the War in Iraq: 2003-2008, truy cập vào ngày 27/12/2016, <http://www.org/2008/03/19/public-attitudes-toward-the-war-in-iraq- 20032008/>. Lê Văn Cương, ThS. Tạ Quang Chuyên, 13/09/2012, Mỹ trở lại châu Á và tác động của nó đến an ninh khu vực, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, truy cập vào ngày 27/12/2016, <http://tapchiqptd.vn/vi/quoc- phong-quan-su-nuoc-ngoai/my-tro-lai-chau-a-va-tac-dong-cua-no-den-an-ninh-khu-vuc/1459. 5 Remarks by President Barack Obama at Suntory Hall, The White House, Office of the Press Secretary, truy cập vào ngày 27/12/2016, <https://www.gov/the-press-office/remarks-president-barack- obama-suntory-hall>.
1 trục sang Châu Á - Thái Bình Dương trong bản khuyến nghị chính sách của Ngoại trưởng Hillary Clinton. Đây cũng là lần đầu tiên thuật ngữ “xoay trục” (pivot) được đề cập. Với định hướng đó, Obama đã liên tục công du đến các nước ở Châu Á như Singapore, Trung Quốc và Hàn Quốc (2009), Úc và Indonesia (2011), Thái Lan, Myanmar và Campuchia (2012). Năm 2012, ngoài các vòng đàm phán TPP, Hoa Kỳ đã hoàn tất Hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc (KORUS), tiến hành tham vấn Hiệp định khung về thương mại và đầu tư (TIFA) với Đài Loan và Hiệp định đầu tư song phương với Trung Quốc và Ấn Độ.
Hoa Kỳ cũng khẳng định sẽ bố trí lại sức mạnh hải quân theo hướng tăng cường triển khai tàu sân bay, tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu chiến ven bờ và tàu ngầm ở Thái Bình Dương6. Thuật ngữ “tái cân bằng” (rebalancing) cũng được sử dụng lần đầu trước dư luận, khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã nhấn mạnh cụm từ này nhiều lần trong bài phát biểu của mình tại Đối thoại Shangri-La vào tháng 6 năm 2012. Cả hai thuật ngữ trên đều mang mục đích đề cập đến chính sách của chính quyền Obama khi chuyển trọng tâm của Hoa Kỳ từ các khu vực khác, như Trung Đông, sang một khu vực ngày càng quan trọng: Châu Á - Thái Bình Dương. Việc nghiên cứu và đánh giá chính sách trên đã nhận được nhiều sự quan tâm từ các học giả.
Ở trong nước, GS. Nguyễn Thái Yên Hương với tác phẩm “Quan hệ Mỹ - Trung: Hợp tác và cạnh tranh, luận giải dưới góc độ cân bằng quyền lực” đã tập trung phân tích những nhân tố chính tác động tới hơn 35 năm quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc, bao gồm: các nhân tố liên quan đến lợi ích quốc gia, dân tộc; sự cân bằng chiến lược và nhận thức của hai nước đối với nhau; sự tương tác của các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế; sự thay đổi của bối cảnh quốc tế và khu vực tại mỗi giai đoạn lịch sử. Các nhân tố này đã được GS. Nguyễn Thái Yên Hương xây dựng dựa trên lập luận cho rằng cân bằng quyền lực là một trong những lý thuyết có thể giải thích được mối quan hệ giữa các cường quốc7.
Bên cạnh đó, qua những phân tích về mục tiêu cơ bản và lâu dài của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, PGS. Nguyễn Thị Quế, ThS. Nguyễn Thị Thúy, Chiến lược xoay trục, tái cân bằng của Mỹ đối với châu Á - Thái Bình Dương, Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2015, Học viện Chính trị quốc gia, truy cập vào ngày 27/12/2016, <http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/quoc-te/item/1264-chien-luoc-xoay-truc-tai-can- bang-cua-my-doi-voi-chau-a-thai-binh-duong. Nguyễn Thái Yên Hương, 2011, Quan hệ Mỹ - Trung hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân bằng quyền lực, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2 Thị Quế và ThS. Nguyễn Thị Thúy đã cho rằng đây là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu của chính quyền Hoa Kỳ, mà mục tiêu xuyên suốt, nhất quán là sử dụng ưu thế về kinh tế, chính trị, quân sự, giành quyền bá chủ khu vực và thế giới. Lê Đình Tĩnh lại lập luận rằng chính quyền của Tổng thống Obama đã và đang tiến hành mạnh hơn các biện pháp có tính kiềm chế theo kết cấu “đầu trục nan hoa” và ủng hộ các quan điểm kiềm chế Trung Quốc của các nhà lý luận Tân hiện thực như Stephen Walt, Dimitri K.
Ở nước ngoài, đề tài này được rất nhiều học giả có uy tín nghiên cứu với nhiều ấn phẩm. Giáo sư Wei Ling cho rằng chính sách Xoay trục Châu Á của chính quyền Obama trong nhiệm kỳ đầu tiên đã không đưa ra một sự bảo đảm đúng đắn cho các đối tác và liên minh của Hoa Kỳ, khiến ASEAN rơi vào thế lưỡng nan phải lựa chọn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Lòng tin giữa hai phía Hoa Kỳ và Trung Quốc bị suy giảm, và làm gián đoạn các quá trình đang tiến hành ở khu vực, đồng thời làm mất cân bằng ở khu vực ở một khía cạnh nào đó9. Giáo sư Kim Sung-han thì đánh giá chính sách Tái cân bằng tại thời điểm 2015 đã đạt được một số thành công nhất định, như hợp tác đồng minh, tham gia vào cuộc cạnh tranh uy quyền trên biển với Trung Quốc, hợp tác với ASEAN để giữ vai trò lãnh đạo trong cơ chế xây dựng niềm tin (confidence - building mechanism) của các diễn đàn đa phương nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong khu vực10.
Giáo sư Michael Auslin cho rằng chính sách Tái cân bằng có sáu mục tiêu bao gồm: củng cố các liên minh; cải thiện mối quan hệ với các cường quốc đang trỗi dậy; nâng cao năng lực quản lí của nhà nước về kinh tế; tham gia vào các thể chế đa phương; hỗ trợ phổ quát những giá trị toàn cầu, và tăng cường sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Ông cho rằng việc đưa ra bất kì đánh giá sơ bộ về sáu yếu tố của chính sách Tái cân bằng là rất liều lĩnh11. Lê Đình Tĩnh, 09/2012, Thử tiếp cận hệ thống đối với chính sách Đối ngoại Mỹ dưới chính quyền Obama, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 3 (90), tr.107 – 130, truy cập vào ngày 06/12/2016, <http://trungtamhoclieuthainguyen.com/Upload/Collection/brief/39351_1102013924573032. 9 Wei Ling, 10/06/2013, Rebalancing or De-Balancing: US Pivot and East Asian Order, American Foreign Policy Interests: The Journal of the National Committee on American Foreign Policy, tr.
10 Kim Sung-han, America’s Rebalancing to Asia: Challenges and Opportunities, AMERICA’S ROLE IN ASIA: The Implications of America’s Rebalancing Policy to Asia, Korean American Association, tr. 11 Michael Auslin, Assessing the U. “Rebalance” to Asia: Trends and Prospects for American Strategy in the Asia-Pacific Region, Statement before the U.-China Economic and Security Review Commission On 3 Mặc khác, khi nói về các tiêu chí của cân bằng quyền lực (khái niệm mà nhóm nghiên cứu chọn để đưa ra khung tiêu chí đánh giá), các học giả cũng đưa ra nhiều khung tiêu chí khác nhau. John Mearsheimer cho rằng cân bằng quyền lực tức là hành động để duy trì hệ thống phân bổ quyền lực đang tồn tại thông qua việc hỗ trợ một quốc gia đang bị thách thức bởi một cường quốc xét lại12.
Trong bài viết “Is China a status quo power?”, Alastair I. Johnston cũng chia cân bằng quyền lực thành hai nhóm: cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài. Theo Johnston, các quốc gia có thể cân bằng bên trong thông qua việc huy động các nguồn lực về kinh tế, công nghệ và con người để biến thành sức mạnh quân sự hay chiến lược, hoặc cân bằng bên ngoài bằng việc hình thành liên minh với các quốc gia chia sẻ cùng một lợi ích trong việc chống lại một bá quyền mạnh hơn, hoặc một quốc gia thống trị hoặc thỉnh thoảng là cả hai13. Wirtz, và Michel Fortmann chia cân bằng quyền lực thành cân bằng cứng (hard balancing) và cân bằng mềm (soft balancing).
Theo các tác giả này, cân bằng cứng được thể hiện thông qua việc các quốc gia phê chuẩn các chiến lược nhằm xây dựng và nâng cấp năng lực quân sự của bản thân, đồng thời thành lập và duy trì những liên minh chính thức (formal alliances) và những liên minh đối lập (counter alliances). Bên cạnh đó, cân bằng mềm được tiến hành dựa trên việc tăng cường vũ khí một cách hữu hạn, tiến hành các cuộc tập trận hợp tác đặc biệt, hoặc hợp tác trong các tổ chức quốc tế và khu vực14.K Organski, người khai sáng của thuyết chuyển đổi quyền lực (power transition) cũng đưa ra sáu phương pháp mà một quốc gia có thể sử dụng để duy trì cân bằng quyền lực, bao gồm: tăng cường vũ lực; nắm giữ lãnh thổ; thiết lập các vùng đệm; thành lập các liên minh; can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, hoặc chia để trị15. “China’s New Leadership and Implications for the United States”, American Enterprise Institute, truy cập vào ngày 04/1/2017, <http://www.org/wp-content/uploads/2013/02/-assessing-the-us-rebalance-to- asia_085943192571. Snyder, 2002, Mearsheimer’s World— Offensive Realism and the Struggle for Security, International Security, Vol.161, truy cập vào ngày 28/03/2017, <http://ir.com/sites/default/files/glaser%20review%20of%20measheimer.
Johnstan, 2003, Is China a Status Quo Power?, International Security, Vol. 14 Ngoài ra các tác giả còn đề cập đến cân bằng bất tương xứng (asymmetric balancing); tuy nhiên, nhóm xét thấy loại cân bằng này chủ yếu áp dụng cho các chủ thể dưới quốc gia (subnational actors) nên nhóm không nêu ra trong bài. Wirtz, và Michel Fortmann, 2004, Balance of Power: Theory and Practice in the 21st Century, Nxb. Seehan, 2004, The Balance of Power: History and Theory, Nxb.54, truy cập vào ngày 28/03/2017, <http://slantchev.edu/courses/pdf/Sheehan%20-%20Balance%20of%20Power.
4 Nhìn chung, điểm mới trong đề tài của nhóm so với các nghiên cứu trên được thể hiện thông qua việc sử dụng các tiêu chí đánh giá cụ thể để nghiên cứu tính hiệu quả của chính sách Tái cân bằng, và cập nhật các diễn biến gần đây nhất của khu vực. II – CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Đối với đề tài “Đánh giá chính sách Tái cân bằng của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc giai đoạn 2009 – 2016”, nhóm nghiên cứu đặt ra câu hỏi nghiên cứu: Liệu chính sách Tái cân bằng của Hoa Kỳ trong giai đoạn 2009 – 2016 có hiệu quả trong việc cân bằng quyền lực với Trung Quốc hay không? III – MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nhóm tác giả thực hiện đề tài này với mục đích tìm hiểu tính hiệu quả của chính sách Tái cân bằng Hoa Kỳ đã áp dụng từ năm 2009 – 2016 trong việc cân bằng quyền lực với Trung Quốc, để từ đó trả lời những thắc mắc của chính nhóm nghiên cứu và có thể cung cấp, ở một mức độ nhất định, một nguồn học liệu cho các sinh viên thuộc chuyên ngành Quan hệ Quốc tế.