Tổng quan nghiên cứu

Thị trường sữa bột công thức dành cho trẻ em dưới sáu tuổi tại Việt Nam là phân khúc có tốc độ phát triển ấn tượng với mức tăng trưởng bình quân 20,8%/năm trong giai đoạn 2004-2009, đóng góp 40,75% tổng doanh thu toàn ngành sữa (tương đương 7.539 tỷ đồng năm 2009). Tuy nhiên, mặt bằng giá sữa bột liên tục gia tăng và duy trì ở mức cao đã tạo áp lực kinh tế nặng nề lên các hộ gia đình, khi chi phí mua sữa cho một trẻ nhỏ có thể chiếm tới 30% đến 55,1% tổng chi tiêu ăn uống của nhóm dân cư có thu nhập thấp và trung bình.

Trước làn sóng quan ngại từ dư luận về việc các công ty đa quốc gia lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để trục lợi, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 122/2010/TT-BTC nhằm đưa sản phẩm sữa bột trẻ em dưới sáu tuổi vào danh mục đăng ký giá bắt buộc. Dẫu vậy, các báo cáo thị trường trái chiều từ cơ quan quản lý và các tổ chức quốc tế đã đặt ra câu hỏi lớn về tính chuẩn xác trong việc nhận diện bản chất thị trường làm cơ sở ban hành chính sách.

Nghiên cứu tập trung nhận diện cấu trúc thực tế của thị trường sữa bột trẻ em tại Việt Nam trong giai đoạn 2004-2011, phân tích cơ chế hình thành giá bán, đánh giá sự phù hợp của công cụ quản lý giá hành chính và đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp tối ưu. Ý nghĩa cốt lõi của công trình là cung cấp luận cứ khoa học thực chứng giúp nhà nước khắc phục đúng các khiếm khuyết thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết cấu trúc thị trường trong kinh tế học vi mô để phân loại mô hình thị trường dựa trên các biến số: số lượng người mua - người bán, tính đồng nhất của sản phẩm, rào cản gia nhập và khả năng chi phối giá. Bên cạnh đó, lý thuyết thất bại thị trường, trọng tâm là lý thuyết bất cân xứng thông tin, được sử dụng để phân tích các lệch lạc trong hành vi tiêu dùng và quyết định định giá của doanh nghiệp. Ngoài ra, lý thuyết về độ co giãn của cầu theo giá cùng góc nhìn kinh tế học về vai trò của quảng cáo (quan điểm quyền lực thị trường đối lập quan điểm thông tin) tạo nền tảng đánh giá tác động của chi phí tiếp thị đối với giá bán lẻ và phúc lợi xã hội.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm: vị trí thống lĩnh thị trường (xác định theo Luật Cạnh tranh 2004 khi nhóm bốn doanh nghiệp nắm giữ từ 75% thị phần trở lên), bất cân xứng thông tin, hiệu quả kinh tế theo quy mô, giá vốn hàng bán và biên lợi nhuận ròng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong mốc thời gian từ năm 2004 đến tháng 3/2011. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo ngành từ Tổng cục Thống kê, Cục Quản lý cạnh tranh, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, các tổ chức tài chính và các công ty nghiên cứu thị trường quốc tế. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn sâu các nhà quản trị thương hiệu của các công ty sữa hàng đầu và khảo sát thực địa giá niêm yết tại các hệ thống bán lẻ.

Cỡ mẫu khảo sát giá bao gồm 128 sản phẩm sữa bột cho trẻ em từ 9 hãng lớn chiếm 98% thị phần, trong đó chọn mẫu tập trung có chủ đích vào 26 dòng sản phẩm đại diện cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi đóng lon thiếc 900g – phân khúc có lượng tiêu thụ lớn nhất thị trường. Mẫu nghiên cứu hành vi tiêu dùng được đối chiếu từ tập dữ liệu 450 người tiêu dùng của đơn vị đo lường độc lập.

Phương pháp phân tích bóc tách chi phí và chuỗi giá trị được lựa chọn nhằm kiểm tra tính xác thực của lợi nhuận doanh nghiệp thay vì chỉ nhìn vào mức chênh lệch danh nghĩa giữa giá bán lẻ và giá vốn. Đồng thời, phương pháp phân tích tương quan chuỗi thời gian được áp dụng để đối chiếu biến động giá sữa nội địa với ba yếu tố đầu vào cốt lõi: giá bột sữa thế giới, tỷ giá hối đoái VND/USD và chỉ số lạm phát trong nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, không có cơ sở thực chứng để kết luận giá sữa tại Việt Nam đắt nhất thế giới hay các hãng sữa đang thu siêu lợi nhuận 60%. Phân tích chi tiết trường hợp sản phẩm Enfagrow A+ 900g với giá bán lẻ 276.364 đồng cho thấy, sau khi khấu trừ 10% thuế VAT, 3% chiết khấu cho nhà bán lẻ, 17,9% chiết khấu đại lý, 46,4% giá vốn hàng bán và 25,5% chi phí vận hành (gồm tiếp thị, quản lý và thuế thu nhập doanh nghiệp), tỷ suất lợi nhuận ròng thực tế của nhà phân phối chỉ đạt khoảng 7% trên giá bán.

Thứ hai, việc tăng giá sữa trong nước phản ánh tương quan trực tiếp với biến động của các yếu tố chi phí đầu vào. Giá bột sữa nguyên liệu nhập khẩu chỉ chiếm khoảng 30% giá thành sản phẩm, trong khi 70% còn lại chịu tác động mạnh mẽ từ tỷ giá ngoại tệ và lạm phát nội địa. Giai đoạn 2006-2011, lạm phát tích lũy đạt 73,1%, tỷ giá VND/USD trượt giá 30% và giá bột sữa thế giới tăng 43%, đẩy tổng chi phí đầu vào tăng 64,4%. Mức tăng này hoàn toàn tương đồng với mức điều chỉnh giá sữa bình quân 50% đến 60% của các hãng lớn trong cùng giai đoạn.

Thứ ba, thị trường sữa bột trẻ em về bản chất là thị trường có tính cạnh tranh cao nhưng chưa hoàn hảo, hội tụ 72 doanh nghiệp với hơn 128 dòng sản phẩm phân bổ rộng khắp các phân khúc từ giá thấp (135.000 đồng/lon 900g) đến cao cấp (649.125 đồng/lon 800g), không có hiện tượng bỏ trống phân khúc hay liên minh ấn định giá độc quyền.

Thứ tư, nguyên nhân căn bản khiến mặt bằng giá duy trì ở mức cao là do thất bại thị trường xuất phát từ bất cân xứng thông tin. Khoảng 74% người tiêu dùng quyết định chọn sữa dựa trên mức độ phù hợp cảm nhận của trẻ và niềm tin thương hiệu. Vấn đề hơn 150 trên 200 cơ sở sản xuất từng vướng vi phạm an toàn thực phẩm cùng sự kiện phát hiện 18 sản phẩm nhiễm melamine năm 2008 đã khiến các bà mẹ sẵn sàng chi trả mức giá cao để đổi lấy sự an tâm, làm giảm độ co giãn của cầu theo giá.

Thảo luận kết quả

Mặt bằng giá sữa bột cao tại Việt Nam không phải là hệ quả của việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để độc quyền giá, mà xuất phát từ cấu trúc ngành phụ thuộc 78% vào nguồn sữa nhập khẩu và rào cản tâm lý từ phía người tiêu dùng. Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua biểu đồ biến động chuỗi thời gian cho thấy rõ đường biến thiên giá bán của các công ty bám sát đường tăng trưởng tổng chi phí đầu vào nhưng có độ trễ nhất định theo chu kỳ kinh doanh.

Khảo sát của cơ quan chức năng trước đây cho rằng giá sữa trong nước cao bất hợp lý bắt nguồn từ việc so sánh thiếu tương đồng về mặt quy cách, tên gọi và công thức sản phẩm đặc thù giữa các quốc gia. Việc can thiệp bằng biện pháp hành chính như Thông tư 122/2010/TT-BTC không mang lại hiệu quả hạ nhiệt thị trường, bằng chứng là sau 6 tháng áp dụng, giá sữa vẫn tiếp tục tăng thêm hai đợt với mức tăng khoảng 10% mỗi đợt do áp lực chi phí đầu vào gia tăng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, bãi bỏ quy định bắt buộc đăng ký giá đối với mặt hàng sữa bột trẻ em dưới sáu tuổi trong Thông tư 122/2010/TT-BTC, chuyển sang duy trì biện pháp kiểm soát các yếu tố hình thành giá khi thị trường phát sinh biến động bất thường. Bộ Tài chính cần chủ trì thực hiện điều chỉnh này trong vòng 3 đến 6 tháng nhằm tôn trọng quyền tự do định giá của doanh nghiệp và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng.

Thứ hai, hoàn thiện hành lang pháp lý về hoạt động quảng cáo, tiếp thị và ghi nhãn hàng hóa dinh dưỡng. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch rà soát, ban hành quy chế cấm các thông điệp truyền thông gây hiểu lầm như tăng chỉ số IQ vượt trội hay phát triển chiều cao đột biến; cấm toàn diện việc quảng bá, tiếp thị sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ tại các cơ sở y tế khám chữa bệnh từ quý 4/2011.

Thứ ba, thiết lập chương trình truyền thông dinh dưỡng khách quan và diện rộng. Viện Dinh dưỡng Quốc gia cùng các cơ quan truyền thông triển khai các chiến dịch phổ biến kiến thức, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ trẻ sơ sinh được bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu từ mức 17% lên 35% trong giai đoạn 2011-2015; đồng thời hướng dẫn chuyển đổi sử dụng sữa tươi và thực phẩm thay thế hợp lý cho trẻ trên 1 tuổi.

Thứ tư, nâng cao năng lực kỹ thuật và quy chuẩn kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm. Bộ Y tế cần đầu tư đồng bộ hệ thống trang thiết bị phân tích vi chất đạt chuẩn quốc tế tại các trung tâm kiểm nghiệm trọng điểm, công khai định kỳ danh mục sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng để giảm thiểu chi phí tìm kiếm thông tin của người tiêu dùng và dỡ bỏ rào cản gia nhập thị trường cho các thương hiệu mới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Y tế: Luận văn cung cấp phương pháp luận thực chứng để đánh giá tác động chính sách quản lý giá, hỗ trợ thiết kế các công cụ can thiệp dựa trên quy luật thị trường thay cho các mệnh lệnh hành chính thuần túy.

Thứ hai, các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG): Tài liệu cung cấp góc nhìn sâu sắc về cấu trúc chi phí, chiến lược định giá theo cảm nhận giá trị khách hàng và phương thức quản trị truyền thông minh bạch trong môi trường có độ nhạy cảm cao về mặt xã hội.

Thứ ba, học viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế học vi mô, kinh tế phát triển và chính sách công: Đây là tài liệu tham khảo giá trị về kỹ thuật phân tích thất bại thị trường, đo lường bất cân xứng thông tin và đánh giá chính sách bình ổn giá trên số liệu thực tế.

Thứ tư, các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hiệp hội ngành nghề: Cung cấp nguồn chứng cứ khoa học giúp xây dựng các cẩm nang hướng dẫn tiêu dùng thông thái, nâng cao nhận thức cộng đồng về dinh dưỡng trẻ em và giám sát tính minh bạch của thị trường.

Câu hỏi thường gặp

Giá sữa bột trẻ em tại Việt Nam có thực sự cao nhất thế giới như các luồng thông tin phản ánh? Không có đủ bằng chứng khoa học để kết luận giá sữa tại Việt Nam cao nhất thế giới. Sự chênh lệch trong các khảo sát xuất phát từ việc so sánh khập khiễng giữa các dòng sản phẩm có công thức và tên thương mại khác nhau giữa các quốc gia, trong khi khảo sát độc lập cho thấy giá sữa tại Việt Nam thấp hơn nhiều nước trong khu vực.

Tại sao giá sữa trong nước liên tục tăng ngay cả khi giá nguyên liệu thế giới có xu hướng giảm? Bột sữa nguyên liệu chỉ chiếm khoảng 30% cơ cấu giá thành sản phẩm. Khoảng 70% chi phí còn lại chịu sự chi phối trực tiếp từ đà tăng của tỷ giá hối đoái và chỉ số lạm phát tích lũy nội địa, khiến việc giảm giá sữa bột thế giới không đủ bù đắp mức tăng của các chi phí hoạt động trong nước.

Doanh nghiệp sữa có đang thu mức siêu lợi nhuận lên đến 60% trên giá bán lẻ? Nhận định này không chính xác do nhầm lẫn giữa lợi nhuận gộp và lợi nhuận ròng. Mức chênh lệch giữa giá vốn và giá bán lẻ phải chi trả cho hàng loạt chi phí hợp lý gồm vận chuyển, lưu kho, bán hàng, tiếp thị và thuế. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế thực tế của nhà phân phối chỉ dao động quanh mức 7%.

Công cụ đăng ký giá bắt buộc theo Thông tư 122/2010/TT-BTC có mang lại hiệu quả bình ổn thị trường? Biện pháp đăng ký giá hành chính không đạt được mục tiêu kiềm chế tăng giá vì can thiệp sai bản chất của một thị trường có tính cạnh tranh. Thực tế sau hơn 6 tháng áp dụng thông tư, giá sữa vẫn tăng thêm hai đợt do áp lực chi phí đầu vào thực tế tăng cao.

Giải pháp then chốt nào giúp hạ nhiệt mặt bằng giá sữa bột trẻ em một cách bền vững? Giải pháp cốt lõi là giải quyết triệt để tình trạng bất cân xứng thông tin. Nhà nước cần siết chặt quản lý quảng cáo thổi phồng công dụng, bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm để tạo dựng niềm tin vào các sản phẩm giá rẻ, đồng thời phổ biến kiến thức dinh dưỡng đa dạng cho người tiêu dùng.

Kết luận

  • Thị trường sữa bột công thức trẻ em dưới sáu tuổi tại Việt Nam mang đặc tính cạnh tranh cao với sự tham gia của 72 doanh nghiệp và 128 dòng sản phẩm đa dạng, không tồn tại bằng chứng về việc lạm dụng vị thế thống lĩnh để ấn định giá độc quyền.
  • Lợi nhuận ròng thực tế của doanh nghiệp duy trì ở mức hợp lý khoảng 7%, và việc tăng giá sữa trong nước phản ánh chính xác áp lực tăng 64,4% của tổng hòa các chi phí đầu vào giai đoạn 2006-2011.
  • Thất bại thị trường trọng tâm bắt nguồn từ hiện tượng bất cân xứng thông tin và tâm lý lo ngại an toàn thực phẩm, đẩy người tiêu dùng vào các phân khúc giá cao để tìm kiếm sự an tâm.
  • Việc áp dụng công cụ đăng ký giá hành chính theo Thông tư 122/2010/TT-BTC không giải quyết đúng khiếm khuyết thị trường và cần được thay thế bằng cơ chế quản lý gián tiếp thông qua kiểm soát yếu tố hình thành giá.
  • Nhà nước cần ưu tiên hoàn thiện quy chuẩn ghi nhãn, kiểm soát quảng cáo y tế, tăng cường kiểm nghiệm an toàn thực phẩm và thúc đẩy truyền thông dinh dưỡng khoa học.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan hoạch định chính sách cần nhanh chóng hoàn thiện khung khổ điều tiết giá linh hoạt và triển khai đồng bộ các chương trình dinh dưỡng quốc gia để giảm bớt gánh nặng chi tiêu, bảo đảm mọi trẻ em đều được tiếp cận nguồn dinh dưỡng tối ưu và công bằng.