MỞ ĐẦU – giới thiệu chung về bối cảnh nghiên cứu, sự cần thiết, phương pháp nghiên cứu, mục tiêu đề tài, các câu hỏi chính sách và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI – chỉ ra khung phân tích của nghiên cứu bao gồm vai trò và mục tiêu của nó trong việc hoạch định chính sách. Chương 3 – THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GKN TẠI TỈNH PHÚ YÊN – giới thiệu về cụm chính sách phát triển GKN, và việc triển khai thực hiện chúng trên thực tế (cụ thể tại Phú Yên). Chương 4 – KẾT QUẢ - BÀN LUẬN – chỉ ra những điểm bất cập trong cụm chính sách hiện tại đối với việc triển khai tại địa phương (cụ thể là Phú Yên).
Chương 5 – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ – nêu ra những quan điểm của tác giả trong việc hoàn thiện chính sách nhằm đạt mục tiêu hiệu quả cao hơn và nhanh chóng hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 2. Khung lý thuyết “phân tích tác động của quy định” – RIA RIA là một quá trình phân tích các tác động có thể của một sự thay đổi về chính sách và đưa ra một loạt các lựa chọn để thực hiện điều đó. Công cụ này có thể được sử dụng nhằm đánh giá5: Tất cả các tác động tiềm năng về mặt xã hội, môi trường, tài chính và kinh tế của một quy định; Tất cả các quy định chính thức: văn bản pháp luật chính thức (luật, pháp lệnh, NĐ, QĐ, các bản kế hoạch) và các quy định không chính thức (ví dụ hướng dẫn về các thông lệ cần tuân thủ, các chương trình nâng cao nhận thức của công chúng); Sự phân bổ tác động đối với các đối tượng khác nhau, bao gồm người tiêu dùng, DN, các đối tượng trong khu vực công, các tổ chức phi chính phủ, khu vực nông thôn, thành thị hoặc các nhóm đối tượng khác.
Mục tiêu chính mà RIA hướng đến là đảm bảo các VBPL có chất lượng thực thi cao hơn. Một số nguyên tắc chính để nâng cao chất lượng VBPL bao gồm6: Chỉ đưa ra quy định pháp luật khi cần thiết; Xem xét tất cả các phương án, bao gồm cả phương án “không làm gì”; Khi cần thiết, đưa ra quy định ở mức hợp lý và tương thích với rủi ro và vấn đề đang được xử lý; Giảm bớt và đơn giản hóa các quy định pháp lý bất cứ khi nào có thể. Một cách tổng quát, một VBPL có chất lượng cao cần có: Tạo ra gánh nặng tối thiểu (cho xã hội và doanh nghiệp). Các biện pháp pháp luật cần đảm bảo tính tối thiểu, đủ để đạt các kết quả dự kiến.
Cần xem xét một cách minh bạch, rõ ràng các phương án mà không cần phải sử dụng tới VBPL; Được xây dựng sao cho ảnh hưởng tối thiểu đến sự cạnh tranh; Tương thích với các thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế hoặc được quốc tế công nhận nhằm giảm thiểu các cản ngại đối với thương mại. 5 Mallon, Raymond (2005) 6 Mallon, Raymond và Lê Duy Bình (2007) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Rõ ràng, minh bạch, thống nhất và có thể tiên liệu được: các đối tượng liên quan cần phải hiểu được một cách dễ dàng quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong khuôn khổ VBPL đó; Tập trung vào vấn đề chính và giảm thiểu các tác động khác; Xác định cơ chế trách nhiệm rõ ràng về thực hiện và giám sát. Các cơ quan chịu trách nhiệm cần đảm bảo rằng mình đã “tiến hành một Đánh giá dự báo tác động pháp luật (RIA) và thấy rằng lợi ích của đề xuất thay đổi lớn hơn chi phí của việc thực hiện đề xuất đó”. RIA thường được thực hiện như một bước đánh giá trước khi ban hành một VBPL, một chính sách cụ thể.
Ngoài ra, RIA cũng có thể được thực hiện sau khi ban hành một chính sách nào đó như một khâu hậu kiểm. RIA sẽ đánh giá để tìm ra những trục trặc của chính sách đó khi ban hành, sự phản ứng của các đối tượng có liên quan đến chính sách… để từ đó xem xét khả năng bổ sung, điều chỉnh chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế nhằm mang lại hiệu quả cao hơn. Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng phương pháp đánh giá “Lợi ích – Chi phí” để đánh giá Cụm chính sách phát triển GKN như một khâu hậu kiểm, qua đó xem xét quá trình triển khai chính sách này tại Phú Yên, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm bổ sung, triển khai áp dụng vào thực tiễn. Khung phân tích thể chế và vai trò của các cấp quản lý Đề tài sẽ sử dụng một phần của khung phân tích thể chế để tìm hiểu vai trò và thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước ban hành, phối hợp và triển khai chính sách GKN cụ thể là Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên Môi trường và các đơn vị trực tiếp thực hiện tại địa phương như Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên – Môi trường, UBND Huyện/Thành phố, UBND Xã/Phường.
Thông qua đó, xem xét phân tích, đánh giá việc phân tán quyền quản lý Nhà nước theo ngành và theo địa phương vùng lãnh thổ cho nhiều cơ quan, tác động như thế nào đến hiệu quả triển khai cụm chính sách phát triển GKN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những nghiên cứu trước và kinh nghiệm GKN là vật liệu sản xuất theo công nghệ mới được các nhà chuyên môn cũng như các nhà quản lý đánh giá cao và tập trung nghiên cứu về tính lợi ích nhiều mặt của nó. Tuy nhiên, luận văn này là tác phẩm đầu tiên trên địa bàn tỉnh Phú Yên về phân tích chính sách trong lĩnh vực này.
Đề tài sẽ giúp một phần cho việc triển khai áp dụng một vài đề tài tương tự nhưng chuyên sâu về kĩ thuật đã có như: “Nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ sản xuất và khuyến khích sử dụng VLXD không nung, từng bước thay thế một phần vật liệu nung trên địa bàn tỉnh Phú Yên” của Lê Hoàng Thông, hay đề tài “Nghiên cứu ứng dụng chuyển giao công nghệ sản xuất và khuyến khích sử dụng VLXD không nung thay thế cho vật liệu nung trên địa bàn tỉnh” do Huỳnh Lữ Tân, Phó giám đốc Sở Xây Dựng Phú Yên chủ nhiệm … vào thực tiễn. Văn bản pháp lý của cụm chính sách phát triển GKN Việt Nam đã chính thức sử dụng RIA trong xây dựng pháp luật từ khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và NĐ 24/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2009. Theo khảo sát của Viện kinh tế Việt Nam và cơ quan phát triển Hoa Kỳ (USAID), riêng trong năm 2010, Việt Nam đã áp dụng RIA vào được 22/25 dự luật, mặc dù báo cáo RIA có chất lượng còn thấp, nhưng đây là dấu hiệu khả quan cho bước đầu triển khai. Đối với cụm chính sách phát triển GKN, cơ sở pháp lý căn cứ vào các VBPL sau: Đối với các VBPL của Trung Ương : - QĐ 15/2000-BXD ngày 24/7/2000 của Bộ Xây dựng v/v Ban hành quy định đầu tư sản xuất gạch ngói đất sét nung.
Trong đó kiểm soát việc lấy đất sét làm nguyên liệu làm gạch, khuyến khích sử dụng công nghệ tuynel và đặt ra lộ trình đến năm 2005 loại bỏ các lò GTC khỏi các đô thị, đến năm 2010 thì xóa bỏ hoàn toàn. - QĐ số 115/2001/QĐ-TTg về việc quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp VLXD đến năm 2020 và định hướng đến 2020; Trong đó quy định khuyến khích VLXKN định hướng đến năm 2005 chiếm tỉ lệ 20% và 30% vào năm 2010 trong tổng số vật liệu xây. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - QĐ 121/2008 ngày 29/8/2008 của Thủ tướng CP v/v Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển VLXD Việt Nam đến năm 2020. Trong đó định hướng phấn đấu tỷ lệ GKN đến năm 2015 là 20 – 25% và năm 2020 là 30 – 40% tổng số vật liệu xây trong nước.
- CV 2383/BXD – VLXD ngày 27/11/2008 của Bộ Xây dựng gửi Sở Xây dựng các tỉnh thành phố về phát triển vật liệu xây, GKN thay thế cho GĐSN để giảm ô nhiễm môi trường. Trong đó đề nghị các Sở Xây dựng báo cáo tình hình hoạt động các cơ sở sản xuất GKN để Bộ có hình thức hỗ trợ. - QĐ 567/2010 ngày 28/4/2010 của Thủ tướng CP v/v Phê duyệt chương trình phát triển vật liệu không nung đến năm 2020. Trong đó đề xuất mục tiêu phát triển sản xuất và sử dụng VLXKN thay thế GĐSN đạt tỷ lệ 20 – 25% năm 2015 và 30 – 40% năm 2020; hằng năm Việt Nam sử dụng khoảng 15 – 20 triệu tấn phế thải công nghiệp (tro xỉ nhiệt điện, xỉ lò cao) làm GKN, tiết kiệm khoảng 1.000ha đất nông nghiệp và hàng trăm ha đất chứa phế thải; tiến tới xóa bỏ hoàn toàn GĐSN bằng lò thủ công.
Ngoài ra, QĐ này cũng quy định kể từ năm 2011, các nhà cao tầng từ 9 tầng trở lên bắt buộc sử dụng 30% GKN trong tổng số vật liệu xây. Đối với địa phương Phú Yên, các văn bản đã ban hành như: - CT 22/2011/CT-UBND của UBND tỉnh Phú Yên v/v chấn chỉnh việc sản xuất gạch ngói đất sét nung bằng lò thủ công trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Trong đó quy định đến hết năm 2013, không còn lò thủ công sản xuất GĐSN tại các đô thị (thị trấn, thị xã, thành phố); đến hết năm 2014 không còn lò thủ công sản xuất GĐSN trên địa bàn tỉnh. Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng khung phân tích là RIA với phương pháp đánh giá “Lợi ích – Chi phí” nhằm đánh giá cụm chính sách phát triển GKC tại Phú Yên.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng một phần của khung phân tích thể chế để đánh giá sự phân tán quyền quản lý Nhà nước theo ngành và theo vùng lãnh thổ đã tác động như thế nào đến hiệu quả triển khai chính sách trên. Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành thu thập các ý kiến chủ quan của các chuyên gia, các nhà quản lý cấp địa phương, các doanh nghiệp có liên quan…, để giúp cho nghiên cứu có được góc nhìn khách quan nhất. Với cơ sở lý thuyết về RIA, một phương pháp phân tích đánh giá tác động tiên tiến, bảo đảm hài hòa lợi ích các đối tượng liên quan với chi phí hợp lý được áp dụng vào nhiều lĩnh vực chính sách kinh tế ở các nước phát triển.