Tổng quan nghiên cứu

Phát triển vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường là yêu cầu cấp thiết trong chiến lược tăng trưởng bền vững tại Việt Nam. Giai đoạn 2011 - 2020, cả nước ước tính tiêu thụ khoảng 330 tỷ viên gạch đất sét nung, làm cạn kiệt 500 triệu m3 đất sét, làm mất 25.000 ha đất canh tác nông nghiệp và phát thải khoảng 148 triệu tấn khí độc hại vào khí quyển. Tại tỉnh Phú Yên, địa phương có diện tích tự nhiên 5.060 km2 và 868.514 nhân khẩu với hơn 73% lao động nông nghiệp vào năm 2010, hoạt động sản xuất gạch nung truyền thống đang gây sức ép nặng nề lên tài nguyên đất lúa. Đến đầu năm 2012, toàn tỉnh vẫn tồn tại 248 cơ sở với 311 lò gạch thủ công đang vận hành, cung ứng khoảng 101,35 triệu viên gạch mỗi năm.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề trọng tâm: Đánh giá nguyên nhân khiến cụm chính sách khuyến khích gạch không nung và loại bỏ lò gạch thủ công từ Quyết định 15/2000/QĐ-BXD đến Quyết định 567/2010/QĐ-TTg chưa đạt hiệu quả sau hơn 10 năm thực thi tại Phú Yên. Mục tiêu nghiên cứu là đo lường tác động đa chiều của chính sách đến các nhóm lợi ích, làm rõ xung đột thể chế và đề xuất giải pháp khả thi. Phạm vi nghiên cứu bao quát số liệu sản xuất, tiêu thụ vật liệu xây trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2000 đến năm 2012, định hướng đến năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học giúp địa phương bảo vệ 15 - 30 ha đất lúa màu mỡ mỗi năm, cắt giảm 50.000 tấn khí CO2 và hỗ trợ chuyển đổi nghề bền vững cho gần 5.000 lao động nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết Phân tích tác động của quy định (Regulatory Impact Analysis - RIA) kết hợp với Khung phân tích thể chế và Phân tích Chi phí - Lợi ích (CBA). RIA là công cụ đánh giá tác động tiềm năng về xã hội, môi trường và kinh tế của các văn bản pháp luật, hướng đến mục tiêu tối thiểu hóa gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp. Tại Việt Nam, phương pháp RIA đã được thí điểm áp dụng cho 22/25 dự luật vào năm 2010 theo Nghị định 24/2009/NĐ-CP.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng: gạch đất sét nung, gạch không nung (gạch block bê tông, gạch bê tông nhẹ khí chưng áp AAC), chi phí ngoại ứng môi trường và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khung thể chế được sử dụng để phân tích sự phân tán thẩm quyền giữa Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng chính quyền địa phương các cấp trong việc thực thi Quyết định 567/2010/QĐ-TTg, văn bản đặt mục tiêu tỷ lệ gạch không nung đạt 20 - 25% vào năm 2015 và 30 - 40% vào năm 2020.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp điều tra toàn bộ các đơn vị sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 248 cơ sở gạch thủ công, 5 nhà máy gạch Tuynel công nghiệp với tổng công suất 120 triệu viên/năm, 3 nhà máy sản xuất gạch không nung công suất 17 triệu viên/năm và 8 chuyên gia đầu ngành thuộc Sở Xây dựng, Hội Kiến trúc sư cùng các doanh nghiệp xây dựng tại Phú Yên.

Nghiên cứu kết hợp dữ liệu sơ cấp từ phỏng vấn sâu với dữ liệu thứ cấp từ Cục Thống kê và Sở Xây dựng Phú Yên giai đoạn 2008 - 2012. Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích được lựa chọn vì cho phép lượng hóa chính xác các tổn thất ngoại ứng môi trường, đo lường sự dịch chuyển phúc lợi giữa các nhóm tác động và đánh giá hiệu quả kinh tế ròng của các phương án chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, sản xuất gạch thủ công gây lãng phí tài nguyên đất và năng lượng nghiêm trọng. Toàn tỉnh Phú Yên có 248 cơ sở gạch thủ công tiêu thụ hơn 150.000 m3 đất sét mỗi năm, làm suy thoái 15 - 30 ha đất nông nghiệp, tiêu tốn 15.000 tấn than tương đương và xả thải khoảng 50.000 tấn khí CO2 cùng các khí độc SOx, NOx ra môi trường. Sản lượng gạch thủ công chiếm tới 55% tổng nhu cầu tiêu thụ toàn tỉnh (tương đương 90 - 133 triệu viên/năm giai đoạn 2008 - 2011), tập trung chủ yếu tại huyện Phú Hòa với 42,3% và huyện Đông Hòa với 31,5%.

Thứ hai, gạch block bê tông sở hữu đặc tính kỹ thuật và chi phí vượt trội nhưng chiếm thị phần rất thấp. Theo tiêu chuẩn TCVN 6477:1999, gạch block đạt mác nén M75 đến M200 và độ hút nước dưới 8 - 10%, vượt trội hoàn toàn so với gạch đất sét nung theo TCVN 6355:1998 vốn khó đạt mác M100 và có độ hút nước lên tới 16%. Về mặt kinh tế, sử dụng gạch block bê tông giúp giảm chi phí xây thô hơn 37% trên mỗi khối xây so với gạch nung. Tuy vậy, lượng tiêu thụ gạch không nung chỉ đạt khoảng 3 triệu viên/năm, chiếm vỏn vẹn 2% thị phần toàn tỉnh.

Thứ ba, việc triển khai chính sách hiện hành mang lại tổng lợi ích xã hội âm trong ngắn hạn. Khi cấm lò thủ công theo Chỉ thị 22/2011/CT-UBND, thị trường không chuyển dịch sang gạch xanh mà chuyển giao gần như toàn bộ sang 5 nhà máy gạch Tuynel với công suất 120 triệu viên/năm. Quá trình này khiến gần 5.000 lao động thủ công đối mặt nguy cơ mất việc làm trong khi các nhà máy Tuynel chỉ tạo ra 640 việc làm mới.

Thảo luận kết quả

Nghịch lý thị trường xuất phát từ ba nguyên nhân căn bản: thói quen xây dựng truyền thống của người dân, tâm lý ngại thi công gạch nặng của thợ xây và sự thiếu vắng các định mức xây dựng bằng gạch không nung trong các công trình sử dụng vốn ngân sách. Bên cạnh đó, giá bán gạch nung trên thị trường hiện thấp hơn giá trị thực do chưa gánh chịu đầy đủ thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường.

Về mặt thể hiện trực quan, dữ liệu thực trạng có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cơ cấu thị phần gạch xây tại Phú Yên (gạch thủ công chiếm 55%, gạch Tuynel chiếm 43%, gạch không nung chiếm 2%) và bảng so sánh ma trận chi phí - lợi ích giữa các nhóm chủ thể. Kết quả này tương đồng với kinh nghiệm quốc tế: Trung Quốc từng cấm gạch đất sét tại 170 thành phố từ năm 2003 và nâng tỷ lệ vật liệu xanh lên 55% vào năm 2011 nhờ chế tài phạt 200.000 Nhân dân tệ; Bangladesh cũng ban hành Đạo luật nung gạch từ năm 1989 và xóa bỏ hoàn toàn lò gạch FCK vào năm 2010.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường để đưa giá gạch đất nung về đúng giá trị thực. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên cần điều chỉnh tăng thuế tài nguyên đất sét từ mức 7% (2.100 đồng/m3) lên mức kịch khung 15% (4.500 đồng/m3) theo Luật Thuế tài nguyên, đồng thời áp dụng mức phí bảo vệ môi trường tối đa 2.000 đồng/m3 đất sét theo Nghị định 74/2011/NĐ-CP trước quý II/2013.

Thứ hai, phân cấp toàn bộ nguồn thu thuế tài nguyên đất cho ngân sách cấp xã. Sở Tài chính phối hợp Cục Thuế chuyển giao 100% tiền thu thuế khai thác đất làm gạch về ngân sách xã, phường từ năm 2013 nhằm tạo động lực giám sát tại chỗ, chấm dứt tình trạng lợi dụng việc cải tạo hạ độ cao đồng ruộng để bán đất sét màu mỡ.

Thứ ba, triển khai gói hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và công nghệ. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề tương đương 1.500.000 đồng/người cho gần 5.000 lao động dôi dư tại các lò thủ công. Sở Khoa học và Công nghệ hướng dẫn các chủ lò chuyển sang đầu tư máy ép gạch block bán tự động công suất 5.000 viên/ngày với chi phí chuyển đổi từ 100 đến 200 triệu đồng/máy trong giai đoạn 2013 - 2014.

Thứ tư, áp dụng quy định bắt buộc sử dụng gạch không nung vào công trình xây dựng. Sở Xây dựng Phú Yên ban hành quy định bắt buộc các công trình cao từ 9 tầng trở lên phải dùng tối thiểu 30% gạch không nung, và 100% công trình sử dụng vốn đầu tư công phải sử dụng vật liệu xây không nung từ năm 2013, bổ sung định mức kỹ thuật theo Thông tư 24/2005/TT-BXD.

Thứ năm, thành lập Ban chỉ đạo liên ngành giám sát thực thi chính sách. Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập đoàn liên ngành do Giám đốc Sở Xây dựng làm Trưởng ban, phối hợp cùng Cảnh sát Môi trường và Thanh tra tỉnh, hoạt động đến hết năm 2014 để kiểm tra, xử phạt và đóng cửa dứt điểm toàn bộ 311 lò thủ công.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại các Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban nhân dân các cấp có thể ứng dụng khung phân tích RIA và mô hình phân cấp thuế để xây dựng lộ trình loại bỏ lò thủ công phù hợp với thực tiễn địa phương.

Nhóm doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và nhà đầu tư công nghệ xanh khai thác dữ liệu dự báo nhu cầu vật liệu (đạt 380 triệu viên vào năm 2020) để tính toán phương án đầu tư dây chuyền máy ép gạch block với số vốn hợp lý từ 100 đến 200 triệu đồng.

Nhóm kiến trúc sư, kỹ sư kết cấu và nhà thầu xây dựng sử dụng hệ thống số liệu so sánh tiêu chuẩn TCVN 6477:1999 nhằm tối ưu hóa thiết kế khối xây cách âm, cách nhiệt và tiết kiệm 37% chi phí công trình dân dụng lẫn công cộng.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và chuyên gia nghiên cứu ngành Chính sách công, Kinh tế tài nguyên tham khảo phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) thực chứng trong việc xử lý bài toán xung đột lợi ích giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao gạch không nung có chi phí xây dựng rẻ hơn nhưng người dân vẫn e ngại sử dụng?
Dù gạch block bê tông giúp giảm hơn 37% chi phí khối xây và đạt cường độ nén vượt trội M75 - M200, thị phần tại Phú Yên năm 2011 chỉ đạt 2% (khoảng 3 triệu viên). Nguyên nhân chính do thói quen xây gạch đỏ lâu đời, thợ xây ngại thao tác với viên gạch kích thước lớn và thiếu các công trình mẫu sử dụng vốn ngân sách để tạo niềm tin cho cộng đồng.

Khung phân tích RIA phát hiện điểm nghẽn lớn nhất trong việc thực thi chính sách tại Phú Yên là gì?
Phân tích RIA chỉ ra rằng khi cấm 248 cơ sở thủ công, lợi ích thị trường bị thâu tóm hoàn toàn bởi 5 nhà máy Tuynel thay vì tạo đà cho doanh nghiệp gạch không nung phát triển. Điều này khiến tổng phúc lợi xã hội bị âm trong ngắn hạn do môi trường vẫn chịu khí thải từ than đá và không giải quyết được bài toán việc làm cho lao động nông thôn.

Việc xóa bỏ các lò gạch thủ công ảnh hưởng như thế nào đến lực lượng lao động địa phương?
Chính sách đóng cửa 311 lò thủ công tác động trực tiếp đến sinh kế của gần 5.000 lao động địa phương, trong đó 40% là phụ nữ nông thôn chưa qua đào tạo nghề. Thiếu chính sách trợ cấp đào tạo nghề khoảng 1.500.000 đồng/người và hỗ trợ chuyển đổi việc làm là nguyên nhân chính khiến các địa phương liên tục xin gia hạn thời gian đóng cửa lò gạch.

Biện pháp tài chính nào giúp cân bằng giá giữa gạch đất sét nung và gạch không nung?
Luận văn đề xuất tăng thuế tài nguyên đất sét lên mức tối đa 15% (4.500 đồng/m3) và thu phí bảo vệ môi trường kịch trần 2.000 đồng/m3 theo Nghị định 74/2011/NĐ-CP. Việc nội hóa chi phí ngoại ứng môi trường sẽ đẩy giá thành gạch nung tăng lên, tạo động lực cạnh tranh công bằng cho sản phẩm gạch không nung.

Kinh nghiệm quốc tế nào được luận văn chứng minh là có thể áp dụng hiệu quả tại Việt Nam?
Nghiên cứu nhấn mạnh bài học từ Trung Quốc khi áp dụng lệnh cấm gạch nung tại 170 thành phố vào năm 2003 và xử phạt nghiêm ngặt 200.000 Nhân dân tệ đối với công trình vi phạm, giúp đạt tỷ lệ 55% vật liệu không nung vào năm 2011. Việt Nam cần kết hợp hài hòa giữa chế tài hành chính mạnh mẽ và cơ chế thưởng phạt kinh tế.

Kết luận

  • Luận văn đánh giá toàn diện bất cập của chính sách xóa bỏ lò gạch thủ công sau 12 năm thực hiện tại Phú Yên, nơi vẫn còn 311 lò nung đang hoạt động gây ô nhiễm.
  • Khẳng định chất lượng vượt trội của gạch block bê tông với cường độ chịu nén đạt tới M200 và khả năng tiết kiệm hơn 37% chi phí khối xây công trình.
  • Lượng hóa tác động an sinh xã hội đối với gần 5.000 lao động khi xóa bỏ 248 cơ sở thủ công, chỉ ra nguyên nhân khiến tổng phúc lợi xã hội ngắn hạn bị âm.
  • Đề xuất giải pháp tăng thuế tài nguyên đất sét lên 15% (4.500 đồng/m3) và phí môi trường lên 2.000 đồng/m3 nhằm đưa giá gạch nung về đúng giá trị thực.
  • Xác lập lộ trình thể chế hóa bắt buộc dùng 30% đến 100% gạch xanh trong công trình công, hướng đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn lò gạch thủ công trước năm 2015.

Đóng góp lớn nhất của đề tài là tiên phong ứng dụng khung phân tích RIA vào lĩnh vực vật liệu xây dựng tại Phú Yên, cung cấp luận cứ thực tiễn để hoàn thiện chính sách chuyển đổi xanh giai đoạn 2013 - 2020. Các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp cần khẩn trương phối hợp hoàn thiện định mức kỹ thuật, ban hành chế tài xử phạt nghiêm minh và hỗ trợ công nghệ để thúc đẩy thị trường vật liệu xây dựng phát triển bền vững.