Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa tại Việt Nam diễn ra với tốc độ nhanh chóng, kéo theo nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp với quy mô lớn. Ước tính trung bình mỗi năm cả nước có khoảng trên 70.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi để phục vụ phát triển công nghiệp và đô thị, tác động trực tiếp đến sinh kế của hàng trăm nghìn hộ nông dân. Tại Hà Nội, huyện Từ Liêm là địa bàn trọng điểm của quá trình mở rộng không gian đô thị với gần 300 dự án đầu tư được triển khai trong giai đoạn 2000 - 2011. Tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn huyện lên tới 2.035,86 ha, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và việc làm của 18.685 hộ gia đình, trong đó có 7.269 hộ bị mất toàn bộ tư liệu sản xuất.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự chuyển dịch cơ cấu việc làm của người lao động nông nghiệp diễn ra còn bị động, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm sau thu hồi đất có xu hướng gia tăng do trình độ lao động chưa đáp ứng yêu cầu của khu vực kinh tế công nghiệp và dịch vụ. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá toàn diện tình hình thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho lao động nông nghiệp tại huyện Từ Liêm giai đoạn 2000 - 2011, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm bảo đảm an sinh xã hội. Nghiên cứu cung cấp cơ sở thực chứng giá trị để đo lường hiệu quả của chính sách chi trả hỗ trợ tài chính gấp 5 lần giá đất nông nghiệp và chính sách cấp thẻ học nghề trị giá tối đa 6.000.000 đồng/lao động, hỗ trợ các nhà hoạch định định hình mô hình chuyển đổi sinh kế bền vững trong tiến trình đô thị hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội của Arthur Lewis kết hợp mô hình Sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - DFID). Mô hình này tập trung phân tích sự tương tác giữa năm nguồn vốn sinh kế (vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn con người, vốn vật chất và vốn xã hội) của hộ nông dân khi đối mặt với cú sốc bị thu hồi đất canh tác. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết thị trường lao động phân mảng nhằm luận giải rào cản gia nhập khu vực chính thức của lao động nông nghiệp sau chuyển đổi.

Hệ thống khái niệm nền tảng được chuẩn hóa dựa trên Luật Đất đai 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 84/2007/NĐ-CP và Nghị định 69/2009/NĐ-CP. Các khái niệm trọng tâm bao gồm: thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bồi thường giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp, chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm (hình thức bồi hoàn tài chính từ 1,5 đến 5 lần giá đất và miễn phí đào tạo nghề), cùng khái niệm chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang khu vực phi nông nghiệp đô thị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với cỡ mẫu khảo sát trực tiếp gồm 150 hộ gia đình (tương ứng 792 nhân khẩu bị ảnh hưởng) tại 5 xã đại diện cho các mức độ đô thị hóa khác nhau của huyện Từ Liêm: Xuân Phương (35 hộ), Đông Ngạc (20 hộ), Mễ Trì (45 hộ), Mỹ Đình (26 hộ) và Phú Diễn (24 hộ). Việc lựa chọn 5 địa bàn này đảm bảo tính đại diện cao do đây là các xã có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm từ 62% đến 90% tổng diện tích canh tác ban đầu.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp thống kê mô tả, phân tích so sánh định lượng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội trước và sau thu hồi đất, phương pháp chuyên gia và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Từ Liêm từ năm 2000 đến năm 2011. Lý do lựa chọn kết hợp phân tích định lượng và định tính là nhằm kiểm chứng mức độ hấp thụ chính sách, phân tích mối tương quan giữa cơ cấu tuổi, trình độ học vấn với khả năng tìm kiếm việc làm mới của người dân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ thu hồi đất diễn ra dồn dập khiến quỹ đất nông nghiệp của huyện Từ Liêm suy giảm nghiêm trọng. Giai đoạn 2006 - 2011, diện tích đất nông nghiệp toàn huyện giảm 636,86 ha (bình quân giảm 127,37 ha/năm), chỉ còn 2.779,93 ha vào năm 2011. Cơ cấu kinh tế huyện chuyển dịch mạnh sang công nghiệp - xây dựng (chiếm 54,5% với 5.594 tỷ đồng) và thương mại - dịch vụ (chiếm 44% với 4.589 tỷ đồng), trong khi ngành nông nghiệp chỉ còn đóng góp khiêm tốn 1,5% (201 tỷ đồng) trong tổng giá trị sản xuất 10.384 tỷ đồng năm 2011.

Thứ hai, mức độ mất đất canh tác của từng hộ gia đình ở mức rất cao. Trong 150 hộ được khảo sát, có tới 65 hộ (43,3%) bị thu hồi 100% diện tích đất nông nghiệp, 52 hộ (34,7%) bị thu hồi trên 70% diện tích và 26 hộ (17,3%) bị thu hồi từ 30% đến 70%. Tổng diện tích đất của 150 hộ trước khi thu hồi là 226.017 m2, sau thu hồi chỉ còn lại 48.814 m2, tỷ lệ diện tích bị thu hồi lên đến 78,4% với mức mất đất bình quân 1.181,3 m2/hộ.

Thứ ba, cơ cấu sử dụng đất thu hồi tập trung chủ yếu vào phát triển đô thị. Trong tổng số 2.035,86 ha đất nông nghiệp bị thu hồi toàn huyện, đất dành cho khu đô thị và nhà ở chiếm 1.042,36 ha (51,2%), khu công nghiệp và nhà máy chiếm 427 ha (21,0%), đất xây dựng cơ bản chiếm 195,5 ha (9,6%) và các mục đích khác chiếm 371 ha (18,2%).

Thứ tư, hiệu quả chuyển đổi nghề nghiệp và sử dụng tiền hỗ trợ còn nhiều bất cập. Mặc dù chính sách theo Quyết định 108/2009/QĐ-UBND hỗ trợ bằng tiền gấp 5 lần giá đất nông nghiệp và cấp thẻ học nghề 6.000.000 đồng/người, khoảng 70% số tiền đền bù của các hộ dân được sử dụng vào việc xây dựng nhà cửa và tiêu dùng sinh hoạt cá nhân. Chỉ có khoảng 29% hộ dân ghi nhận mức sống cải thiện bền vững sau thu hồi đất, trong khi chỉ 13% lao động tìm được việc làm phi nông nghiệp ổn định lâu dài.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực tế có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua các biểu đồ cơ cấu biến động đất đai giai đoạn 2006 - 2011 và bảng đối chiếu việc làm của người lao động trước và sau khi bị thu hồi đất. Nguyên nhân chính của tình trạng thiếu việc làm sau thu hồi đất bắt nguồn từ việc lao động nông nghiệp tại địa phương có độ tuổi bình quân cao (phần lớn trên 35 tuổi), trình độ văn hóa chủ yếu dừng ở mức trung học cơ sở và thiếu kỹ năng chuyên môn kỹ thuật.

Khi so sánh với các nghiên cứu tương đồng tại các tỉnh lân cận như Bắc Ninh (thu hồi gần 2.000 ha đất nông nghiệp) hay Hải Phòng (thu hồi gần 4.000 ha), việc chi trả hỗ trợ một lần bằng tiền mặt mà không gắn liền với chuỗi cung ứng đào tạo nghề - tuyển dụng doanh nghiệp thường dẫn đến tình trạng mất sinh kế dài hạn. Chính sách thẻ học nghề 6.000.000 đồng chưa phát huy tác dụng tối đa do danh mục ngành nghề đào tạo chưa sát với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp trong Cụm công nghiệp vừa và nhỏ Từ Liêm hay Khu công nghiệp Nam Thăng Long.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế bồi thường sinh kế. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Sở Tài nguyên và Môi trường cần nghiên cứu điều chỉnh cơ chế hỗ trợ chuyển đổi nghề, kết hợp linh hoạt giữa chi trả tài chính và giao đất dịch vụ thương mại hoặc diện tích kinh doanh phi nông nghiệp. Mục tiêu là đảm bảo tối thiểu 50% số hộ mất trên 70% đất sản xuất có mặt bằng kinh doanh dịch vụ ổn định trong giai đoạn 2012 - 2015.

Thứ hai, tái cấu trúc chương trình đào tạo nghề theo đơn đặt hàng doanh nghiệp. Ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm phối hợp cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nâng hạn mức thẻ đào tạo nghề lên mức 8.000.000 - 10.000.000 đồng/khóa, đa dạng hóa các ngành nghề kỹ thuật ứng dụng và dịch vụ đô thị. Chỉ tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo có việc làm chính thức từ 13% lên trên 45% trong vòng 3 năm.

Thứ ba, thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm xã hội của chủ đầu tư dự án. Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quy định bắt buộc các doanh nghiệp tiếp nhận đất dự án (như KCN Nam Thăng Long với quy mô 260 ha) phải ưu tiên tiếp nhận và tuyển dụng tối thiểu 15% đến 20% lao động địa phương có đất bị thu hồi vào các vị trí sản xuất phù hợp.

Thứ tư, mở rộng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và tư vấn chuyển đổi sinh kế. Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh huyện Từ Liêm giải ngân gói vay vốn tạo việc làm với hạn mức 50.000.000 đến 100.000.000 đồng/hộ, áp dụng lãi suất ưu đãi cho 100% hộ dân thuộc diện thu hồi toàn bộ đất canh tác, tạo điều kiện phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống như may Cổ Nhuế và bún Phú Đô.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên đất đai và lao động (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng cấp quận/huyện). Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn để đánh giá tác động chính sách và xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư khả thi.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Địa chính, Quản lý đất đai, Xã hội học và Kinh tế phát triển. Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra xã hội học nông thôn và mô hình đánh giá chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất.

Thứ ba, các chủ đầu tư dự án khu đô thị, khu công nghiệp và doanh nghiệp hạ tầng. Tài liệu hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng kế hoạch bồi thường giải phóng mặt bằng hài hòa lợi ích, giảm thiểu tranh chấp và thiết kế chương trình tuyển dụng lao động bản địa hiệu quả.

Thứ tư, các tổ chức đoàn thể xã hội, trung tâm xúc tiến việc làm và các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn thực tế về tâm lý và nguyện vọng học nghề của nông dân để tổ chức các lớp đào tạo chuyển giao nghề nghiệp sát thực tế.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề tại Hà Nội thời điểm nghiên cứu quy định mức chi trả như thế nào?

Theo Quyết định 108/2009/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi đất được hỗ trợ bằng tiền gấp 5 lần giá đất nông nghiệp đối với diện tích bị thu hồi trong hạn mức giao đất. Đồng thời, người trong độ tuổi lao động được cấp thẻ học nghề 1 lần với mức kinh phí tối đa không quá 6.000.000 đồng/lao động.

Thực trạng sinh kế của nông dân huyện Từ Liêm sau khi nhận tiền bồi thường đất diễn ra ra sao?

Khảo sát 150 hộ dân tại 5 xã cho thấy sinh kế sau thu hồi đất chưa thực sự bền vững. Khoảng 70% nguồn tiền đền bù được người dân sử dụng vào việc xây nhà mới hoặc mua sắm tiện nghi sinh hoạt. Chỉ có hơn 29% số hộ duy trì và nâng cao được mức thu nhập ổn định, trong khi tỷ lệ người tìm được việc làm phi nông nghiệp có chuyên môn kỹ thuật chỉ đạt khoảng 13%.

Nguyên nhân nào khiến công tác dạy nghề cho nông dân bị thu hồi đất chưa đạt kết quả như kỳ vọng?

Hạn chế chủ yếu xuất phát từ chất lượng đào tạo ngắn hạn (dưới 3 tháng theo Quyết định 81/2005/QĐ-TTg và Quyết định 1956/QĐ-TTg) chưa đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng của các nhà máy. Ngoài ra, người lao động mất đất phần lớn đã trên 35 tuổi, trình độ học vấn cơ bản còn thấp và tâm lý ngại thay đổi môi trường làm việc khiến tỷ lệ đăng ký học nghề thực tế chưa cao.

Quy mô và mục đích thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Từ Liêm giai đoạn 2000 - 2011 được phân bổ như thế nào?

Toàn huyện đã thu hồi 2.035,86 ha đất nông nghiệp phục vụ 191 dự án đầu tư. Cơ cấu mục đích sử dụng đất thu hồi gồm: 1.042,36 ha dành cho phát triển các khu đô thị và nhà ở (chiếm 51,2%), 427 ha xây dựng khu công nghiệp và nhà máy (chiếm 21,0%), 195,5 ha dành cho các công trình xây dựng cơ bản (chiếm 9,6%) và 371 ha dành cho các dự án hạ tầng kỹ thuật khác.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào được rút ra nhằm giải quyết việc làm khi thu hồi đất?

Kinh nghiệm từ các quốc gia như Thái Lan (áp dụng Luật Trưng dụng bất động sản 1987) chỉ ra rằng việc bồi thường thiệt hại cần căn cứ chặt chẽ theo giá thị trường minh bạch. Quan trọng hơn, chính quyền cần quy hoạch hạ tầng dịch vụ đồng bộ đi kèm với các cam kết tạo việc làm trực tiếp từ các dự án đầu tư để đảm bảo mức sống của người bị thu hồi đất tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thu hồi đất, bồi thường thiệt hại và các chính sách an sinh xã hội hỗ trợ chuyển đổi nghề cho nông dân ngoại thành trong tiến trình công nghiệp hóa.
  • Phân tích chi tiết thực trạng thu hồi 2.035,86 ha đất nông nghiệp tác động tới 18.685 hộ dân tại huyện Từ Liêm, làm nổi bật bức tranh chuyển dịch cơ cấu kinh tế với ngành nông nghiệp chỉ còn chiếm 1,5% giá trị sản xuất vào năm 2011.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn chính sách từ kết quả điều tra thực chứng 150 hộ dân tại 5 xã: 43,3% hộ mất trắng đất canh tác, 70% tiền bồi hoàn chi dùng phi sản xuất và thẻ học nghề 6.000.000 đồng chưa phát huy hiệu quả thực chất.
  • Kiến nghị gói 4 giải pháp đồng bộ gồm: hoàn thiện cơ chế định giá đất và bồi thường bằng mặt bằng kinh doanh, nâng cấp chương trình đào tạo nghề theo nhu cầu thực tế, ràng buộc trách nhiệm tuyển dụng của doanh nghiệp và cung cấp tín dụng ưu đãi 50 - 100 triệu đồng/hộ.
  • Thiết lập định hướng thực thi chính sách giai đoạn 2012 - 2015 nhằm ổn định sinh kế bền vững, giảm thiểu xung đột xã hội tại các địa bàn đô thị hóa nhanh của Thủ đô Hà Nội.

Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý quan tâm có thể tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu thạc sĩ Địa chính để khai thác hệ thống dữ liệu thống kê chi tiết và khung giải pháp chuyển đổi việc làm chuyên sâu.