Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Hàng năm, cả nước có trên 70.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi để phục vụ phát triển công nghiệp và khoảng 10.000 ha dành cho các dự án phát triển đô thị. Riêng tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, thành phố Hải Phòng là một trong những trọng điểm đô thị hóa nhanh với gần 4.000 ha đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng.

Quận Lê Chân, với vị trí cửa ngõ nội thành Hải Phòng, là tâm điểm của tốc độ đô thị hóa nhanh với 37 dự án đầu tư được triển khai trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012. Quá trình này đòi hỏi thu hồi 174 ha đất, khiến diện tích đất nông nghiệp của quận thu hẹp chỉ còn 203,59 ha vào năm 2011, chiếm 17,17% tổng diện tích đất tự nhiên. Sự suy giảm tư liệu sản xuất nông nghiệp tất yếu dẫn tới những xáo trộn lớn về sinh kế, tạo ra áp lực nặng nề về giải quyết việc làm cho 4.014 hộ dân thuộc diện giải tỏa, giải phóng mặt bằng.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Lê Chân giai đoạn 2007-2012. Thông qua việc phân tích thực tiễn tại 03 dự án trọng điểm gồm Dự án phát triển giao thông đô thị phường Vĩnh Niệm, Dự án Cải tạo Kênh An Kim Hải phường Nghĩa Xá và Dự án Xây dựng Làng Việt Kiều phường Niệm Nghĩa, luận văn làm rõ những bất cập trong triển khai chính sách, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề, bảo đảm an sinh xã hội bền vững cho người dân mất đất canh tác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của Arthur Lewis và Clark-Fisher. Lý thuyết này chỉ rõ trong tiến trình công nghiệp hóa, sự sụt giảm tỷ trọng nông nghiệp sẽ giải phóng một lượng lớn lao động nông thôn sang khu vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ thương mại. Tại quận Lê Chân, tỷ trọng ngành nông nghiệp năm 2011 chỉ còn chiếm 1,0% trong tổng giá trị sản xuất tương đương 176 tỷ đồng, trong khi ngành công nghiệp - xây dựng chiếm tới 55,8% với 3.924 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) được ứng dụng để phân tích năng lực thích ứng nghề nghiệp. Khi người nông dân mất tư liệu sản xuất truyền thống, việc nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng kỹ thuật qua đào tạo nghề là yếu tố quyết định để họ tái gia nhập thị trường lao động. Luận văn chuẩn hóa các khái niệm cốt lõi theo Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, bao gồm: thu hồi đất, bồi thường quyền sử dụng đất, hỗ trợ ổn định đời sống và cơ chế hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp bằng tiền hoặc đất dịch vụ phi nông nghiệp quy định tại Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý dự án quận Lê Chân và Chi cục Thống kê thành phố Hải Phòng về số liệu biến động 1.186,30 ha đất tự nhiên giai đoạn 2005-2011 và tiến độ triển khai 37 dự án đầu tư. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu trực tiếp các hộ gia đình bị thu hồi đất.

Cỡ mẫu điều tra thực tế gồm 100 phiếu phát ra tại 03 dự án trọng điểm, thu về 55 phiếu hợp lệ với thông tin chi tiết của 148 lao động (Dự án Phát triển giao thông đô thị: 16 phiếu; Dự án Cải tạo Kênh An Kim Hải: 10 phiếu; Dự án Làng Việt Kiều: 29 phiếu). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp ở các vị trí địa lý khác nhau. Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu trước và sau thu hồi đất cùng phương pháp tham vấn chuyên gia được sử dụng để phân tích định lượng, làm rõ tương quan giữa chính sách hỗ trợ và tình trạng việc làm thực tế trong giai đoạn 2007-2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quỹ đất nông nghiệp trên địa bàn quận suy giảm nhanh chóng. Trong giai đoạn 2005-2011, tổng diện tích đất nông nghiệp giảm 41,10 ha (từ 244,69 ha xuống còn 203,59 ha). Đất trồng lúa chịu ảnh hưởng lớn nhất khi giảm 34,40 ha, chuyển dịch phần lớn sang đất công cộng (tăng 15,03 ha) và đất ở đô thị (tăng 21,95 ha).

Thứ hai, tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng và bàn giao quỹ đất còn chậm. Tổng diện tích đất cần thu hồi tại 29 dự án đã triển khai là 174 ha, nhưng tính đến năm 2012 mới chỉ bàn giao được 63 ha, đạt tỷ lệ khiêm tốn 36,2%. Trong tổng số 4.014 hộ thuộc quy hoạch dự án, có 3.127 hộ được phê duyệt phương án bồi thường (đạt 77,9%), và 897 hộ trong tổng số 994 hộ đủ điều kiện đã nhận đất tái định cư (đạt 90,2%).

Thứ ba, cơ cấu việc làm của người lao động có sự biến động tiêu cực rõ rệt sau khi bị thu hồi đất. Dữ liệu khảo sát trên 148 lao động cho thấy tỷ lệ thất nghiệp sau khi thu hồi đất đã tăng từ 12,29% (20 người) lên mức 19,45% (31 người), tương đương mức tăng 7,16%. Tỷ lệ người đang có việc làm giảm mạnh từ 58,70% (84 người) xuống còn 50,51% (53 người). Tỷ lệ lao động không có nhu cầu làm việc hoặc mất sức lao động cũng tăng nhẹ từ 29,01% lên 30,04%.

Thứ tư, công tác đào tạo nghề và chuyển đổi sinh kế chưa đạt hiệu quả mong đợi. Mặc dù chính sách chi trả hỗ trợ chuyển đổi nghề bằng tiền tương đương 2,5 lần giá đất nông nghiệp theo quy định của thành phố Hải Phòng, nhưng người dân chủ yếu sử dụng khoản kinh phí này để xây nhà, mua sắm tiện nghi sinh hoạt hoặc gửi tiết kiệm. Tỷ lệ lao động tham gia các khóa học nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg còn rất thấp do ngành nghề đào tạo chưa sát với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng là do phần lớn lao động nông nghiệp tại quận Lê Chân có độ tuổi trên 35, trình độ học vấn phổ thông chưa cao và thiếu tác phong công nghiệp. Khi bị mất đất canh tác, họ gặp rào cản rất lớn trong việc ứng tuyển vào các nhà máy tại Cụm công nghiệp Vĩnh Niệm hoặc các cơ sở dịch vụ đòi hỏi tay nghề. Sự chênh lệch cung - cầu lao động thể hiện rõ khi các khu công nghiệp chỉ tuyển dụng lao động trẻ dưới 30 tuổi đã qua đào tạo kỹ thuật.

So sánh với các nghiên cứu của ngành nông nghiệp trên phạm vi toàn quốc, tỷ lệ lao động bấp bênh tại quận Lê Chân phản ánh xu hướng chung: có tới 67% số hộ sau thu hồi đất phải quay lại làm nghề nông phân tán hoặc làm việc tự do trong khu vực phi chính thức, chỉ khoảng 13% tìm được việc làm ổn định dài hạn. Kết quả này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ so sánh cơ cấu việc làm trước - sau thu hồi đất và bảng tổng hợp phân tích cơ cấu chi tiêu tiền đền bù của các hộ gia đình. Điều này chứng minh rằng các chính sách bồi thường thuần túy bằng tiền mặt chưa thể giải quyết triệt để bài toán an sinh xã hội bền vững nếu thiếu chiến lược liên kết đào tạo - tuyển dụng đồng bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ và đào tạo nghề. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần điều chỉnh định mức hỗ trợ chi phí học nghề từ 3 triệu đồng lên 5 đến 7 triệu đồng/người/khóa học đối với các ngành kỹ thuật ngắn hạn. Mở rộng thời gian áp dụng chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm lên 36 tháng kể từ ngày có quyết định thu hồi đất theo đúng tinh thần Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg. Thời gian thực hiện giải pháp này cần được áp dụng ngay trong giai đoạn 2013-2015.

Thứ hai, triển khai quyết liệt quy hoạch quỹ đất dịch vụ và mặt bằng sản xuất phi nông nghiệp. Ủy ban nhân dân quận Lê Chân cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường cần bố trí dứt điểm diện tích đất dịch vụ từ 40 m2 đến 50 m2/hộ cho 100% hộ dân bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp tại các khu vực quy hoạch mới như phường Vĩnh Niệm, Kênh Dương. Việc giao đất dịch vụ cần hoàn thành trong thời hạn 12 đến 18 tháng để người dân sớm có mặt bằng kinh doanh buôn bán, phát triển dịch vụ thương mại.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới tài chính tín dụng ưu đãi. Ngân hàng Chính sách xã hội quận Lê Chân phối hợp với Hội Nông dân triển khai gói vay vốn sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 2% đến 3%/năm so với ngân hàng thương mại. Hạn mức cho vay cần nâng lên từ 50 đến 100 triệu đồng/hộ, tạo điều kiện cho các hộ mất đất đầu tư chuyển đổi sang mô hình kinh doanh nhỏ lẻ, phát triển nghề truyền thống da giày hoặc mở rộng dịch vụ vận tải dân sinh.

Thứ tư, đổi mới phương thức đào tạo nghề gắn liền với cam kết tuyển dụng của doanh nghiệp. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Lê Chân cần đóng vai trò cầu nối, ký kết hợp đồng đào tạo theo địa chỉ với các doanh nghiệp thuộc Cụm công nghiệp Vĩnh Niệm và các trung tâm thương mại trên địa bàn. Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế khi tiếp nhận tối thiểu 30% đến 40% lao động địa phương thuộc diện giải phóng mặt bằng vào làm việc ổn định. Định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả tạo việc làm 6 tháng một lần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường và lao động xã hội cấp tỉnh, thành phố và quận, huyện. Luận văn cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học sắc bén giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng phương án bồi thường, tái định cư và đào tạo nghề sát với thực tiễn khi thực hiện các dự án chỉnh trang đô thị.

Thứ hai, ban quản lý dự án và các chủ đầu tư hạ tầng đô thị, khu công nghiệp. Tài liệu này là cẩm nang hữu ích để các chủ đầu tư nghiên cứu quy trình điều tra xã hội học, đánh giá tác động sinh kế của người dân, từ đó thiết kế các chương trình an sinh xã hội, giải quyết việc làm tại chỗ nhằm nâng cao tỷ lệ đồng thuận bàn giao mặt bằng đạt trên 90%.

Thứ ba, các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý đất đai, Xã hội học đô thị và Kinh tế phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp kết hợp dữ liệu thống kê quản lý đất đai với điều tra định lượng thực tế 55 hộ dân (148 lao động), làm tiền đề cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.

Thứ tư, các tổ chức chính trị - xã hội, Hội Nông dân và Hợp tác xã tại địa phương. Các đơn vị này có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng các chương trình tư vấn hướng nghiệp, lập dự án sinh kế vi mô và quản lý nguồn vốn tín dụng chính sách hiệu quả cho hội viên nông dân bị mất tư liệu sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nông nghiệp tại quận Lê Chân thay đổi như thế nào sau khi thu hồi đất?

Khảo sát trên 148 lao động tại 03 dự án trọng điểm cho thấy tỷ lệ thất nghiệp đã tăng mạnh từ 12,29% trước khi thu hồi lên mức 19,45% sau khi thu hồi đất (tăng 7,16%). Số lượng lao động có việc làm ổn định giảm tương ứng từ 58,70% (84 người) xuống còn 50,51% (53 người), do đa số lao động thuần nông gặp khó khăn trong việc đáp ứng kỹ năng tuyển dụng của các ngành công nghiệp và dịch vụ mới.

Chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2007-2012 quy định mức hỗ trợ tài chính cụ thể ra sao?

Căn cứ Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất được hỗ trợ bằng tiền bằng 2,5 lần giá đất nông nghiệp (áp dụng cho khu vực các quận) đối với toàn bộ diện tích bị thu hồi. Trường hợp địa phương có quỹ đất, hộ dân được xem xét giao 1 suất đất kinh doanh dịch vụ với diện tích từ 40 m2 đến 50 m2/hộ.

Những nguyên nhân chủ yếu nào khiến tiến độ giải phóng mặt bằng tại quận Lê Chân đạt tỷ lệ chưa cao?

Tính đến năm 2012, tỷ lệ bàn giao mặt bằng toàn quận mới đạt 36,2% (63 ha trên tổng số 174 ha quy hoạch). Nguyên nhân chính là do giá bồi thường đất nông nghiệp chưa bắt kịp giá thị trường thực tế, công tác bố trí tái định cư cho 994 hộ còn gặp nhiều vướng mắc về hạ tầng kỹ thuật, cùng với tình trạng khiếu kiện kéo dài liên quan đến xác định nguồn gốc đất xâm canh và diện tích đất công.

Phương pháp khảo sát thực địa của luận văn được tổ chức với cỡ mẫu như thế nào để đảm bảo tính đại diện?

Tác giả đã triển khai phát 100 phiếu điều tra và thu về 55 phiếu khảo sát hợp lệ với 148 nhân khẩu trong độ tuổi lao động tại 03 dự án tiêu biểu: Dự án Phát triển giao thông đô thị Vĩnh Niệm (16 phiếu), Dự án Kênh An Kim Hải Nghĩa Xá (10 phiếu) và Dự án Làng Việt Kiều Niệm Nghĩa (29 phiếu), kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ địa chính và lãnh đạo ban bồi thường quận.

Lao động nông nghiệp từ 35 tuổi trở lên gặp những rào cản đặc thù nào khi tìm kiếm việc làm mới?

Nhóm lao động trên 35 tuổi gặp rào cản lớn về trình độ văn hóa, thiếu chứng chỉ nghề chuyên môn và khó thích nghi với kỷ luật làm việc công nghiệp. Các doanh nghiệp trong cụm công nghiệp thường giới hạn độ tuổi tuyển dụng dưới 30 tuổi. Do đó, nhóm lao động này hầu như không thể ứng tuyển vào khu vực chính thức mà phải chuyển sang làm các công việc tự do bấp bênh với mức thu nhập thấp.

Kết luận

  • Phản ánh trung thực biến động giảm 41,10 ha đất nông nghiệp tại quận Lê Chân giai đoạn 2005-2011, cho thấy áp lực chuyển đổi mục đích sử dụng đất rất lớn phục vụ phát triển đô thị.
  • Định lượng rõ nét thực trạng tỷ lệ thất nghiệp tăng thêm 7,16% và chỉ có 36,2% diện tích đất quy hoạch được bàn giao mặt bằng thành công trong giai đoạn 2007-2012.
  • Chứng minh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ khi nông nghiệp chỉ còn chiếm 1,0% giá trị sản xuất năm 2011, đòi hỏi phải tái cơ cấu toàn diện thị trường lao động địa phương.
  • Làm rõ hạn chế của việc chi trả hỗ trợ bằng tiền mặt theo Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND khi người dân chưa chủ động tái đầu tư vào học nghề và phát triển sinh kế dài hạn.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao về chính sách, giao đất dịch vụ 40-50 m2/hộ, hỗ trợ vốn vay tín dụng 50-100 triệu đồng và liên kết đào tạo theo địa chỉ doanh nghiệp.

Luận văn là công trình khoa học có đóng góp quan trọng cả về lý luận quản lý đất đai và thực tiễn an sinh xã hội cho thành phố Hải Phòng. Để hiện thực hóa mục tiêu giải quyết việc làm mới cho 8.500 đến 9.000 lao động mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý cần nhanh chóng tham khảo, ứng dụng đồng bộ các khuyến nghị từ nghiên cứu này vào công tác bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề trong thực tế.