Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh" được tác giả Trần Quốc Việt thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2022, thuộc chuyên ngành Địa lí học (mã số: 62310501), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Viết Thịnh và TS. Trương Văn Tuấn.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm, tạo việc làm và bảo vệ môi trường sinh thái. Đối với các đô thị đặc biệt như Thành phố Hồ Chí Minh, sản xuất nông nghiệp vừa giải quyết nhu cầu thực phẩm tươi sống tại chỗ, vừa hỗ trợ an sinh xã hội cho lao động nông nghiệp và duy trì không gian xanh. Tuy nhiên, cùng với tốc độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng khiến diện tích đất sản xuất nông nghiệp của thành phố suy giảm trung bình 1.200 ha/năm trong giai đoạn 2006 – 2018 (theo số liệu của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh). Đất đai thu hẹp dẫn đến tình trạng một bộ phận lao động thiếu việc làm, trong khi nhu cầu nông sản đô thị ngày càng tăng cao.
Nhằm định hướng phát triển, Quyết định số 10/2009/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã khẳng định mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp thành phố theo hướng hiện đại, bền vững, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao, gắn với đặc thù nông nghiệp đô thị. Dù vậy, thực tế tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tại thành phố còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: các hình thức tổ chức sản xuất hoạt động chưa đồng đều về hiệu quả, việc bố trí không gian sản xuất còn manh mún, phân tán và thiếu tính liên kết đồng bộ. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là phân tích một cách hệ thống các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá toàn diện thực trạng các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp và đề xuất các giải pháp không gian, chính sách nhằm sử dụng hợp lí nguồn lực, nâng cao hiệu quả nông nghiệp đô thị trong bối cảnh quỹ đất ngày càng thu hẹp.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp để nghiên cứu thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trong tương lai, góp phần sử dụng hợp lí các nguồn lực và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thu thập số liệu, dữ liệu và xử lý các tài liệu về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp theo nội dung và mục đích nghiên cứu.
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 – 2018.
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng hợp lí, hiệu quả các nguồn lực của thành phố trong tương lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung vào các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp (nông hộ, trang trại, hợp tác xã nông nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp, khu nông nghiệp công nghệ cao và vùng sản xuất nông nghiệp tập trung) trong hai ngành trồng trọt và chăn nuôi.
- Phạm vi không gian: Các địa bàn có hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm 5 huyện ngoại thành (Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) và các quận có diện tích sản xuất nông nghiệp đặc thù (Quận 9, Quận 12, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2006 – 2018. Các số liệu phân tích về hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được thu thập và đánh giá dựa trên kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản các năm 2006, 2011, 2016 cùng các niên giám thống kê cập nhật đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý luận và thực tiễn được điểm lại
Trong phần tổng quan nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các công trình học thuật theo các trục nội dung:
1. Nhóm nghiên cứu quốc tế về tổ chức lãnh thổ và tổ chức lãnh thổ nông nghiệp:
- Trường phái Địa lí học Xô Viết: Tập trung vào khái niệm phân bố lực lượng sản xuất và thể tổng hợp lãnh thổ sản xuất. N. Koloxopxki (1947) khởi xướng lí thuyết chu trình năng lượng sản xuất; E. Alaev (1983) trong công trình Địa lí kinh tế - xã hội, Từ điển - khái niệm - thuật ngữ đã hoàn thiện khái niệm tổ chức lãnh thổ xã hội ở cả nghĩa rộng (phân công lao động, phân bố lực lượng sản xuất, chính sách vùng) và nghĩa hẹp (tổ chức lãnh thổ hành chính, phân vùng kinh tế). Chuyên gia K. Ivanov (1967, 1969, 1971) phát triển phương pháp dòng (băng chuyền địa lí) trong nghiên cứu tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp và hệ thống lãnh thổ sản xuất nông nghiệp.
- Trường phái học giả phương Tây: J. H. von Thünen (đầu thế kỉ XIX) xây dựng mô hình vành đai nông nghiệp giữa trung tâm và ngoại vi với 5 vành đai chuyên môn hóa dựa trên khoảng cách và chi phí vận chuyển. P. Haggett (1965, 1967, 1975) ứng dụng phương pháp định lượng và mô hình hóa trong phân tích không gian địa lí kinh tế. R. Gould (1970) và R. Morrill (1970) tiếp cận tổ chức không gian xã hội dưới góc độ hiệu quả sử dụng bề mặt Trái Đất. Paul Krugman (1991) phân tích sự tập trung sản xuất tại các trung tâm đô thị dựa trên lợi thế quy mô và tiết kiệm chi phí vận chuyển. P. De Gaudemar (1992) quan niệm tổ chức lãnh thổ là nghệ thuật khai thác không gian kinh tế hợp lí giữa các vùng. Báo cáo Tái định dạng địa kinh tế của Ngân hàng Thế giới (2009) chỉ ra tính quy luật của sự tích tụ mật độ kinh tế theo không gian đô thị.
2. Nhóm nghiên cứu tổ chức lãnh thổ tại Việt Nam:
- Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế chung có các công trình của Đặng Văn Phan (1976) về kinh tế nước miền Bắc; Lê Bá Thảo (1994, 1996) với các công trình về tổ chức lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng, trục kinh tế trọng điểm và cơ sở khoa học tổ chức lãnh thổ Việt Nam; Đặng Hữu Ngọc (1994) về địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam; Trần Văn Thông (1993) về tổ chức không gian kinh tế Nam Bộ; Nguyễn Văn Phú (1997) về dải ven biển Bắc Bộ; Nguyễn Cao Huần (2005) về tổ chức lãnh thổ miền núi phía Bắc tại tỉnh Lào Cai.
- Về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, Lê Thông (1986) phân tích đặc điểm, các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp thế giới và dự báo xu hướng tại Việt Nam; Nguyễn Viết Thịnh (1995) xây dựng khung phân tích tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng dựa trên sự tích hợp giữa các nhân tố tương đối tĩnh (điều kiện sinh thái) và nhân tố động (dân cư, hạ tầng, thị trường); Ngô Doãn Vịnh (2004, 2009) luận giải bản chất phối hợp liên ngành và liên lãnh thổ trong quy hoạch kinh tế nông nghiệp; Nguyễn Thị Trang Thanh (2012) nghiên cứu thực trạng và mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Nghệ An.
3. Nhóm nghiên cứu tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh:
- Các nghiên cứu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh về các mô hình nông nghiệp đô thị hiệu quả.
- Vũ Xuân Đề (2005) nghiên cứu mô hình nông nghiệp sinh thái trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, phân chia thành phố thành 5 tiểu vùng sinh thái thổ nhưỡng: vùng đất phèn và nhiễm mặn (Nhà Bè, bắc Cần Giờ); vùng đất phèn nặng trũng thấp (phía Tây Nam); vùng đất phèn nhẹ và trung bình dọc sông Sài Gòn, sông Đồng Nai; vùng đất phù sa ngọt (nam Bình Chánh); vùng đất xám đồi gò (Củ Chi, bắc Thủ Đức).
- Đàm Nguyễn Thùy Dương (2005) nghiên cứu tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày tại các huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh nhằm định hình thể tổng hợp nông - công nghiệp.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết
Mặc dù các công trình trước đó đã tiếp cận nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ sinh thái hoặc phân ngành kỹ thuật riêng lẻ, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện cấu trúc không gian và hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp (nông hộ, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp, khu công nghệ cao, vùng chuyên canh) trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa giai đoạn 2006 – 2018 làm biến động quỹ đất sản xuất. Luận án chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách tích hợp điều tra xã hội học vi mô với dữ liệu thống kê liên ngành và công nghệ thông tin địa lí.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm
- Khái niệm tổ chức lãnh thổ nông nghiệp: Tác giả định nghĩa tổ chức lãnh thổ nông nghiệp là hệ thống liên kết không gian của tất cả các ngành, các cơ sở sản xuất và các lãnh thổ dựa trên các quy trình kinh tế kĩ thuật mới nhất, chuyên môn hóa, tập trung hóa, liên hợp hóa để sử dụng hiệu quả nhất phân công lao động nông nghiệp theo lãnh thổ nhằm sử dụng các nguồn lực về tự nhiên, kinh tế - xã hội của cả nước cũng như của từng vùng, từng địa phương.
- Hệ thống các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp cấp tỉnh: Bao gồm 6 hình thức chủ yếu: kinh tế nông hộ, kinh tế trang trại (áp dụng tiêu chuẩn phân loại theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT và Thông tư số 02/2020/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hợp tác xã nông nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp, khu nông nghiệp công nghệ cao và vùng sản xuất nông nghiệp tập trung.
- Bốn quan điểm nghiên cứu chỉ đạo:
- Quan điểm hệ thống: Xem xét tổ chức lãnh thổ nông nghiệp là một tiểu hệ thống trong hệ thống kinh tế - xã hội tổng thể của đô thị.
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Nghiên cứu đồng thời cấu trúc đứng (tương tác tự nhiên - kinh tế - xã hội) và cấu trúc ngang (sự phân hóa không gian của các hình thức sản xuất).
- Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Đánh giá đối tượng theo tiến trình thời gian từ quá khứ, hiện tại đến xu thế tương lai.
- Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Hướng tới cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và an toàn môi trường.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
Luận án xây dựng khung chỉ tiêu định lượng đánh giá các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp:
- Nhóm chỉ tiêu đất đai: Tỉ lệ diện tích đất canh tác ($T_{nh} = \frac{\sum S_{HTTCLTNN}}{\sum S_{nn}} \times 100%$) và quy mô diện tích đất bình quân ($QS_{bq} = \frac{\sum S_{HTTCLTNN}}{\sum SL_{HTTCLTNN}}$ tính bằng ha/hình thức).
- Nhóm chỉ tiêu lao động: Bình quân lao động ($LD_{bq} = \frac{\sum LD_{HTTCLTNN}}{\sum SL_{HTTCLTNN}}$ tính bằng người/hình thức), tỉ lệ lao động ($TLLD = \frac{\sum LD_{HTTCLTNN}}{\sum LD_{nn}} \times 100%$), năng suất lao động ($NSLD = \frac{\sum GTSX_{HTTCLTNN}}{\sum LD_{HTTCLTNN}}$ tính bằng triệu đồng/người) và thu nhập bình quân của người lao động ($TNLD = \frac{\sum TN_{HTTCLTNN}}{\sum LD_{HTTCLTNN}}$ tính bằng triệu đồng/người/năm).
- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế: Hiệu quả sử dụng đất ($H_{sdd} = \frac{\sum GTSX_{HTTCLTNN}}{\sum DT_{HTTCLTNN}}$ hoặc $H_{sdd} = \frac{\sum TN_{HTTCLTNN}}{\sum DT_{HTTCLTNN}}$ tính bằng triệu đồng/ha) và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng qua các bước xử lý dữ liệu:
- Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: Khai thác dữ liệu thứ cấp từ Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm của các quận, huyện.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp: Sử dụng chuỗi số liệu từ năm 2006 đến 2018 để lập các bảng biểu phân tích động thái phát triển và so sánh cơ cấu giữa các địa phương.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Triển khai qua 3 giai đoạn (thiết kế tuyến điểm khảo sát; thu thập thông tin và điều chỉnh quan sát; đối chiếu, kiểm chứng tư liệu).
- Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí (GIS): Sử dụng phần mềm MapInfo 10.5 để biên tập và thành lập hệ thống 7 bản đồ chuyên đề:
- Bản đồ hành chính Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018.
- Bản đồ các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bản đồ quy mô và cơ cấu sử dụng đất ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018.
- Bản đồ các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bản đồ thực trạng phát triển và phân bố nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bản đồ thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bản đồ định hướng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành điều tra trực tiếp các nông hộ sản xuất nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi). Cỡ mẫu được xác định theo công thức của Cochran (1977):
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot \delta^2}$$
Với tổng số nông hộ năm 2016 là $N = 19.685$ hộ, độ tin cậy 95% và sai số cho phép $\delta = 5,0%$, quy mô mẫu điều tra là $n = 392$ nông hộ. Phân bổ mẫu chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên tại 3 địa bàn trọng điểm:
| Địa bàn điều tra |
Số lượng nông hộ năm 2016 (hộ) |
Tỉ lệ (%) |
Cỡ mẫu điều tra $n$ (hộ) |
| Huyện Củ Chi |
11.717 |
67,8 |
266 |
| Huyện Bình Chánh |
3.165 |
18,3 |
72 |
| Huyện Hóc Môn |
2.412 |
13,9 |
54 |
| Tổng cộng |
17.294 |
100,0 |
392 |
Dữ liệu phiếu hỏi được làm sạch và xử lý thống kê mô tả, kiểm định tương quan trên phần mềm SPSS 20.0.
6. Phương pháp tham vấn chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi mở đối với các nhà khoa học, nhà quản lý nông nghiệp và chính quyền địa phương.
7. Phương pháp dự báo: Phối hợp giữa phương pháp dự báo ngoại suy xu hướng lịch sử và phương pháp chuyên gia để xây dựng các kịch bản không gian nông nghiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Chương 1 tập trung chuẩn hóa hệ thống khái niệm, các quy luật phân bố không gian và các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. Tác giả khẳng định tổ chức lãnh thổ mang hai thuộc tính nền tảng là tính tổ chức (tính sắp xếp về quy mô và tính định hướng thích ứng môi trường) và tính lãnh thổ (phạm vi ranh giới, cấu trúc không gian). Luận án phân tích chi tiết vai trò của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trong việc thúc đẩy phân công lao động, chuyên môn hóa sản xuất và tối ưu hóa nguồn lực. Các yêu cầu bắt buộc khi tổ chức không gian nông nghiệp gồm: phù hợp với điều kiện sinh thái tự nhiên, bám sát nhu cầu thị trường tiêu thụ, đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường.
Về các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp cấp tỉnh, chương 1 phân tích bản chất, đặc điểm của 6 hình thức:
- Kinh tế nông hộ: Quy mô đất đai nhỏ lẻ, lao động gia đình là chủ yếu, đang dịch chuyển từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa nhỏ và lớn.
- Kinh tế trang trại: Sản xuất hàng hóa quy mô tương đối lớn, sử dụng lao động thuê mướn, gắn liền với thị trường. Luận án trích xuất tiêu chí công nhận trang trại theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: trang trại trồng trọt đạt giá trị sản xuất bình quân từ 1,0 tỷ đồng/năm và diện tích từ 1,0 ha trở lên; trang trại chăn nuôi đạt từ 2,0 tỷ đồng/năm; trang trại tổng hợp đạt từ 2,0 tỷ đồng/năm và diện tích từ 1,0 ha trở lên.
- Hợp tác xã nông nghiệp: Tổ chức do nông dân tự nguyện góp vốn thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ đầu vào, chế biến và tiêu thụ nông sản.
- Doanh nghiệp nông nghiệp: Đơn vị kinh doanh nông nghiệp hạch toán độc lập, ứng dụng công nghệ cao và định hướng tối ưu hóa lợi nhuận.
- Khu nông nghiệp công nghệ cao: Khu vực tập trung được Nhà nước quy hoạch có quy mô từ 100 ha trở lên, tích hợp nghiên cứu, thực nghiệm, đào tạo và chuyển giao công nghệ.
- Vùng sản xuất nông nghiệp tập trung: Lãnh thổ chuyên canh có ranh giới ước lệ, quy mô đất đai tập trung gắn với công nghiệp chế biến và logistics.
Cuối chương, tác giả khái quát kinh nghiệm tổ chức nông nghiệp của các nước phát triển và đang phát triển, rút ra bài học về ứng dụng khoa học kỹ thuật, phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và tăng cường liên kết chuỗi giá trị cho Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh
Chương này đánh giá chi tiết điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và bối cảnh kinh tế - xã hội tác động đến sự hình thành, dịch chuyển tổ chức lãnh thổ nông nghiệp thành phố:
- Vị trí địa lí: Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đóng vai trò đầu mối giao thông thủy, bộ, hàng không, thuận lợi cho việc kết nối thị trường nguyên liệu và tiêu thụ nông sản liên vùng.
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên nông nghiệp:
- Tài nguyên đất: Đất nông nghiệp phân hóa thành các nhóm chính: đất xám đồi gò phù sa cổ tập trung ở Củ Chi, bắc Hóc Môn thuận lợi cho rau, hoa kiểng, cây công nghiệp; đất phù sa màu mỡ ở nam Bình Chánh thích hợp cho lúa và rau màu; đất phèn và đất mặn tại Nhà Bè, Bình Chánh, Cần Giờ đòi hỏi cải tạo thủy lợi hoặc chuyển đổi sang thủy sản, rừng ngập mặn.
- Nguồn nước: Mạng lưới sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, hệ thống kênh rạch và nguồn nước ngầm phục vụ tưới tiêu nhưng chịu tác động ngày càng lớn từ ô nhiễm chất thải sinh hoạt, công nghiệp và hiện tượng xâm nhập mặn trong mùa khô.
- Khí hậu và sinh vật: Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nền nhiệt độ cao quanh năm và hai mùa mưa - khô rõ rệt, quy định tính mùa vụ sản xuất; nguồn gen động thực vật phong phú tạo điều kiện chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng giá trị kinh tế.
- Nhân tố kinh tế - xã hội:
- Đô thị hóa: Là nhân tố tác động mạnh nhất làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất. Quá trình đô thị hóa làm diện tích đất nông nghiệp giảm bình quân 1.200 ha/năm (giai đoạn 2006 – 2018), đẩy giá đất lên cao, buộc sản xuất nông nghiệp phải chuyển đổi từ quảng canh diện tích lớn sang thâm canh công nghệ cao.
- Dân cư và lao động: Lao động nông nghiệp có xu hướng giảm nhanh về số lượng do chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ; tuy nhiên chất lượng lao động ngoại thành tương đối linh hoạt, nhạy bén trong tiếp cận khoa học kỹ thuật và thị trường.
- Thị trường tiêu thụ: Quy mô dân số đô thị đông đúc tạo ra thị trường tiêu thụ thực phẩm tươi sống (rau, sữa, thịt) và sinh vật cảnh rất lớn.
- Khoa học kĩ thuật, vốn đầu tư và hạ tầng: Sự đầu tư vào hệ thống thủy lợi (kênh Đông Củ Chi), giao thông liên huyện và các chính sách hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo Quyết định số 10/2009/QĐ-UBND thúc đẩy quá trình hiện đại hóa các hình thức tổ chức sản xuất.
Chương 3: Thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 trình bày các kết quả đánh giá thực trạng sản xuất nông nghiệp và các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tại thành phố giai đoạn 2006 – 2018:
- Tình hình sản xuất các nông sản chủ yếu:
- Ngành trồng trọt: Chuyển dịch mạnh từ lúa truyền thống sang các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao. Diện tích và sản lượng rau an toàn tăng nhanh, tập trung tại Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh. Hoa lan, cây kiểng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn tại Củ Chi, Hóc Môn, Quận 12 và Thủ Đức. Cây ăn quả đặc sản duy trì dọc hành lang ven sông Sài Gòn.
- Ngành chăn nuôi: Giảm quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư; phát triển chăn nuôi tập trung theo quy mô trang trại công nghiệp. Đàn bò sữa và sản lượng sữa tươi tăng trưởng ổn định tại Củ Chi và Hóc Môn.
- Thực trạng các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp:
- Kinh tế nông hộ: Kết quả điều tra thực địa 392 nông hộ tại Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn cho thấy kinh tế hộ vẫn là lực lượng sản xuất nền tảng nhưng diện tích đất canh tác bình quân còn rất nhỏ. Nguồn vốn tự có hạn chế, trình độ chuyên môn của chủ hộ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực hành; kênh tiêu thụ phụ thuộc phần lớn vào thương lái trung gian.
- Kinh tế trang trại: Số lượng trang trại có xu hướng tăng, chủ yếu là trang trại chăn nuôi bò sữa, lợn thịt và trang trại hoa lan kiểng. Các trang trại có mức độ đầu tư cơ giới hóa và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cao hơn hẳn nông hộ.
- Hợp tác xã nông nghiệp và Doanh nghiệp nông nghiệp: Số lượng hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp tăng dần theo thời gian, hình thành các chuỗi cung ứng nông sản sạch vào hệ thống siêu thị nội thành; tuy vậy nhiều hợp tác xã còn thiếu vốn và hạn chế về mặt bằng sản xuất.
- Khu nông nghiệp công nghệ cao: Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh tại Củ Chi phát huy vai trò nghiên cứu, lai tạo giống cây trồng, thực nghiệm công nghệ nhà màng, tưới tự động và đào tạo chuyển giao công nghệ cho nông dân.
- Các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung: Luận án phân tích không gian phân bố của 5 vùng chuyên môn hóa: vùng chuyên canh rau (Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh); vùng chuyên canh hoa kiểng (Củ Chi, Hóc Môn, Quận 12, Thủ Đức); vùng chuyên canh lúa (các xã trũng tại Củ Chi, Bình Chánh); vùng chuyên canh cây ăn quả (ven sông Củ Chi, Hóc Môn); vùng chăn nuôi tập trung (bò sữa tại Củ Chi, Hóc Môn; nuôi trồng thủy sản tại Cần Giờ, Nhà Bè).
- Đánh giá tổng hợp:
- Mặt đạt được: Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp tăng trưởng liên tục; hình thành các vùng chuyên môn hóa rõ nét gắn với công nghệ cao.
- Tồn tại, hạn chế: Quỹ đất manh mún gây khó khăn cho việc tích tụ ruộng đất; liên kết chuỗi giá trị nông sản còn lỏng lẻo; ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi cục bộ; sức ép thu hồi đất phục vụ đô thị hóa làm giảm tính ổn định lâu dài của các mô hình sản xuất.
Chương 4: Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và dự báo xu thế phát triển, chương 4 xây dựng định hướng và hệ thống giải pháp tổ chức lãnh thổ nông nghiệp:
- Quan điểm và định hướng phát triển:
- Phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái, hiện đại, bền vững, lấy công nghệ cao làm đòn bẩy nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
- Định hướng không gian: Dịch chuyển dần các hoạt động sản xuất nông nghiệp ra khỏi khu vực các quận ven đô, tập trung phát triển tại 4 huyện ngoại thành chính (Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Cần Giờ); bảo vệ các vành đai xanh sinh thái dọc hành lang sông Sài Gòn và sông Đồng Nai.
- Định hướng cơ cấu và chuỗi cung ứng: Ưu tiên nhóm cây trồng, vật nuôi đô thị có giá trị gia tăng cao (rau an toàn, hoa lan, cây kiểng, cá cảnh, bò sữa); xây dựng chuỗi cung ứng nông sản khép kín từ khâu sản xuất giống, chế biến đến kênh phân phối hiện đại.
- Hệ thống 10 nhóm giải pháp cụ thể:
- Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp: Rà soát, cắm mốc và bảo vệ nghiêm ngặt quỹ đất nông nghiệp chuyên canh tập trung tại Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Cần Giờ.
- Tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp: Đẩy mạnh chuyển đổi diện tích đất trồng lúa năng suất thấp sang trồng rau an toàn, hoa lan kiểng và cỏ thức ăn chăn nuôi.
- Phát huy hiệu quả các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp: Củng cố năng lực tài chính và quản trị của các hợp tác xã; tạo điều kiện mặt bằng cho doanh nghiệp nông nghiệp đầu tư; mở rộng mạng lưới vệ tinh của khu nông nghiệp công nghệ cao.
- Đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp: Mở các lớp đào tạo nghề kỹ thuật cao, chuyển giao tri thức kinh doanh nông nghiệp đô thị cho chủ hộ và chủ trang trại.
- Tăng cường liên kết sản xuất: Thúc đẩy liên kết 4 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông) nhằm bao tiêu sản phẩm nông nghiệp sạch.
- Phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật: Hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn kết nối vùng nguyên liệu với nội thành; kiên cố hóa kênh mương thủy lợi và hệ thống kho lạnh bảo quản sau thu hoạch.
- Giải pháp khoa học công nghệ: Đẩy mạnh nghiên cứu công nghệ sinh học, giống chất lượng cao, hệ thống tưới tiết kiệm và kiểm soát môi trường tự động.
- Giải pháp thị trường: Xây dựng thương hiệu nông sản an toàn của thành phố, cấp chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng (VietGAP) và xúc tiến thương mại nông sản.
- Cơ chế, chính sách: Thực hiện các gói hỗ trợ lãi suất vay vốn phát triển nông nghiệp đô thị, đơn giản hóa thủ tục cấp phép xây dựng công trình phụ trợ trên đất nông nghiệp.
- Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu: Kiểm soát chặt chẽ chất thải chăn nuôi bằng hầm biogas; phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch trải nghiệm; xây dựng hệ thống đê bao ngăn mặn và trữ ngọt thích ứng với nước biển dâng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các đóng góp khoa học và thực tiễn sau:
Đóng góp về mặt lí luận
- Hệ thống hóa, cập nhật và làm rõ cơ sở khoa học về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trong bối cảnh đặc thù của một đô thị đặc biệt đang trải qua quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng.
- Xây dựng và vận dụng thành công hệ thống chỉ tiêu định lượng (nhóm chỉ tiêu đất đai, lao động, hiệu quả sử dụng đất và vốn) để đánh giá toàn diện năng lực hoạt động của các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp cấp tỉnh.
- Vận dụng phối hợp phương pháp phân tích không gian truyền thống của Địa lí học với công nghệ thông tin địa lí (phần mềm MapInfo 10.5), xây dựng thành công 7 bản đồ chuyên đề phục vụ trực quan hóa các mối quan hệ địa lí kinh tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá có hệ thống thực trạng chuyển dịch không gian và hiệu quả của các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp (nông hộ, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp, khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng chuyên canh) tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 – 2018.
- Cung cấp nguồn cơ sở dữ liệu thực chứng có độ tin cậy khoa học từ kết quả điều tra chọn mẫu 392 nông hộ tại 3 huyện trọng điểm Củ Chi, Hóc Môn và Bình Chánh, phản ánh cụ thể diện tích đất canh tác, quy mô chuồng trại, nguồn vốn và kênh phân phối nông sản.
- Xây dựng các định hướng không gian sản xuất cụ thể và đề xuất hệ thống 10 nhóm giải pháp khả thi, cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho các cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban Nhân dân thành phố, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chính quyền các quận/huyện) trong công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp đô thị và quản lý sử dụng đất đai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu trong hai phân ngành trồng trọt và chăn nuôi, chưa đi sâu phân tích toàn diện ngành thủy sản (nuôi cá cảnh, tôm nước lợ) và lâm nghiệp (hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ) dù đây là những hợp phần nông nghiệp quan trọng của Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi khảo sát điều tra thực địa bằng bảng hỏi nông hộ mới tập trung ở 3 huyện nông nghiệp trọng điểm (Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn), chưa mở rộng điều tra trực tiếp các nông hộ tại huyện ven biển Cần Giờ hay các quận ven đô.
- Chuỗi số liệu phân tích sâu dừng lại ở mốc năm 2018 theo chu kỳ các cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản, do đó chưa phản ánh được các biến động kinh tế - xã hội phát sinh trong các năm gần đây.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang ngành kinh tế thủy sản đô thị và mô hình quản lý rừng ngập mặn kết hợp kinh tế sinh thái.
- Đi sâu nghiên cứu tác động chi tiết của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn tới sự chuyển dịch ranh giới các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung tại các huyện phía Nam thành phố (Nhà Bè, Cần Giờ, nam Bình Chánh).
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của mô hình nông nghiệp công nghệ cao kết hợp du lịch sinh thái nông nghiệp đô thị trong giai đoạn quy hoạch mới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu học thuật có giá trị ứng dụng đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Các chuyên ngành Địa lí kinh tế - xã hội, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên đất đai và Đô thị học có thể tham khảo phương pháp luận nghiên cứu tổ chức không gian kinh tế, công thức xác định cỡ mẫu Cochran ($n = 392$) và quy trình biên tập bản đồ chuyên đề bằng MapInfo 10.5.
- Giảng viên và các viện nghiên cứu: Làm tài liệu tham khảo giảng dạy cho các học phần Địa lí kinh tế Việt Nam, Địa lí nông nghiệp đô thị và Quy hoạch lãnh thổ kinh tế - xã hội.
- Cơ quan quản lý nhà nước và người làm chính sách: Các cán bộ quy hoạch thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Viện Nghiên cứu Phát triển thành phố và Ủy ban Nhân dân các huyện ngoại thành có thể ứng dụng các bản đồ định hướng và 10 nhóm giải pháp để lập kế hoạch bảo vệ đất nông nghiệp, tái cơ cấu cây trồng, vật nuôi và ban hành chính sách hỗ trợ kinh tế tập thể, kinh tế trang trại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án ghi nhận diện tích đất sản xuất nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh suy giảm với tốc độ bao nhiêu và do những nguyên nhân nào?
Theo số liệu thống kê được dẫn dụng trong luận án, trong giai đoạn 2006 – 2018, diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại thành phố giảm trung bình 1.200 ha/năm. Nguyên nhân trực tiếp là do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng, dẫn đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất xây dựng đô thị, khu công nghiệp và hạ tầng giao thông. Bên cạnh đó, giá trị địa tô chênh lệch cao giữa đất phi nông nghiệp và đất nông nghiệp cũng thúc đẩy xu hướng chuyển đổi này.
2. Quy mô mẫu điều tra nông hộ của luận án được tính toán theo công thức nào và phân bổ cụ thể ra sao?
Cỡ mẫu điều tra nông hộ được tác giả xác định theo công thức chọn mẫu của Cochran (1977):
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot \delta^2}$$
Dựa trên tổng thể $N = 19.685$ nông hộ năm 2016, độ tin cậy 95% và sai số cho phép $\delta = 5,0%$, quy mô mẫu điều tra được tính toán là $n = 392$ nông hộ. Số lượng mẫu được phân tầng ngẫu nhiên theo tỉ lệ số hộ tại 3 huyện trọng điểm: Củ Chi gồm 266 hộ (chiếm 67,8% số mẫu), Bình Chánh gồm 72 hộ (chiếm 18,3% số mẫu) và Hóc Môn gồm 54 hộ (chiếm 13,9% số mẫu).
3. Tác giả sử dụng phần mềm nào để xử lý dữ liệu và xây dựng hệ thống bản đồ trong luận án?
Luận án sử dụng hai công cụ kỹ thuật chính:
- Phần mềm MapInfo 10.5 để biên tập cơ sở dữ liệu không gian và thành lập 7 bản đồ chuyên đề (gồm bản đồ hành chính, bản đồ các nhân tố tự nhiên, bản đồ cơ cấu sử dụng đất năm 2018, bản đồ nhân tố kinh tế - xã hội, bản đồ thực trạng phát triển nông nghiệp, bản đồ thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp và bản đồ định hướng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp).
- Phần mềm SPSS 20.0 để làm sạch, kiểm định độ tin cậy và phân tích thống kê mô tả đối với số liệu điều tra xã hội học từ 392 phiếu hỏi nông hộ.
4. Tiêu chí phân loại kinh tế trang trại được luận án áp dụng theo văn bản quy định nào?
Tác giả áp dụng các tiêu chí xác định kinh tế trang trại theo quy định pháp lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT năm 2011 và Thông tư bổ sung số 02/2020/TT-BNNPTNT năm 2020:
- Trang trại trồng trọt: Giá trị sản xuất bình quân đạt từ 1,0 tỷ đồng/năm trở lên và diện tích đất sản xuất đạt từ 1,0 ha trở lên.
- Trang trại chăn nuôi: Giá trị sản xuất bình quân đạt từ 2,0 tỷ đồng/năm trở lên và đạt quy mô chăn nuôi trang trại theo quy định.
- Trang trại tổng hợp: Giá trị sản xuất bình quân đạt từ 2,0 tỷ đồng/năm trở lên và diện tích đất sản xuất đạt từ 1,0 ha trở lên.
5. Luận án phân tích sự hình thành của các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung nào tại thành phố?
Luận án phân tích không gian phân bố của 5 vùng chuyên môn hóa:
- Vùng chuyên canh rau an toàn: Tập trung chủ yếu tại Củ Chi, Hóc Môn và Bình Chánh.
- Vùng chuyên canh hoa kiểng: Phân bố tại Củ Chi, Hóc Môn, Quận 12 và Thủ Đức.
- Vùng chuyên canh lúa chất lượng cao: Phân bố tại các khu vực đất trũng ở Củ Chi và Bình Chánh.
- Vùng chuyên canh cây ăn quả: Nằm dọc hành lang ven sông Sài Gòn thuộc địa bàn Củ Chi và Hóc Môn.
- Vùng chăn nuôi tập trung: Chăn nuôi bò sữa tập trung tại Củ Chi, Hóc Môn; nuôi trồng thủy sản tập trung tại Cần Giờ, Nhà Bè.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Địa lí học của tác giả Trần Quốc Việt là công trình khoa học khảo sát toàn diện vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 – 2018. Thông qua việc kết hợp cơ sở lí luận địa lí kinh tế với công cụ GIS và điều tra thực địa 392 nông hộ, tác giả đã làm rõ thực trạng phân bố không gian và hiệu quả hoạt động của các hình thức tổ chức sản xuất dưới sức ép đô thị hóa. Hệ thống 7 bản đồ chuyên đề cùng 10 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án tạo cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch, sử dụng hợp lí tài nguyên đất đai và phát triển bền vững nông nghiệp đô thị Thành phố Hồ Chí Minh.