Mở đầu Giới thiệu đề tài nghiên cứu, mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, phạm vi nghiên cứu và bồ cục bài nghiên cứu. Chương 2: Tong quan Giới thiệu các tài liệu nghiên cứu có liên quan và các tải liệu sử dụng tham khảo. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày một số khái niệm, cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu như nông hộ, bảo tồn nguồn gen chè Phú Hội, hiệu quả tài chính, lịch sử trồng chè Phú Hội.
Trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm: nguồn đữ liệu, cách thu thập số liệu và phân tích số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Từ số liệu điều tra được, sẽ tiến hành tổng hợp lại và xử ly số liệu. Sau đó thực hiện tính toán từ thông tin mẫu điều tra, trình bày kết quả nghiên cứu thông qua bảng số liệu và phân tích số liệu để đánh giá hiệu quả tài chính, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định bảo tồn chè Phú Hội. Chương 5: Kết luận và đề xuất Kết luận về toàn bộ nghiên cứu.
Đề xuất, khuyến nghị nhằm nâng cao quyết định bảo tồn chè Phú Hội huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nhằm hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu vấn đề và viết luận văn, những bài viết có liên quan đến hiệu quả kinh tế trên các trang tạp chí kinh tế, khoa học chính thống dưới đây được tổng hợp và tham khảo nhằm làm cơ sở kiến thức dé thực hiện nghiên cứu khóa luận: Theo Trần Thanh Dũng (2017) với bài nghiên cứu ứng dụng mô hình hồi quy Binary Logistic xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia mô hình trồng nhãn kiểu mẫu. Tác gia sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic, kiểm định T-test và phân tích bảng chéo Crosstab.
Số liệu được thu thập từ 60 hộ trồng nhãn tỉnh Sóc Trăng theo phương pháp phỏng van trực tiếp và xử lí bằng phần mén Excel và SPSS. Kết qua nghiên cứu cho thấy có 3 yêu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nông dân vào mô hình trồng nhãn kiểu mẫu là sự tham gia vào HTX, trình độ học vấn và kinh nghiệm của nông dân. Tuy trồng nhãn kiểu mẫu mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trồng nhãn truyền thống nhưng những nông dân lớn tuôi và có nhiều năm canh tác mang tinh bao thủ cao nên rất ít tham gia mô hình trồng nhãn kiêu mẫu. Từ đó tác giả cũng đề ra một số giải pháp như hướng nông dân tham gia mô hình kinh tế hợp tác và chia sẽ kinh nghiệm từ mọi phương tiện về mô hình trồng nhãn kiểu mẫu; góp phần vào hoạch định chiến lược nâng cao thu nhập cho nông dân.
Trần Phú Ngọc và cộng sự (2017) với bài nghiên cứu các yếu tố hỗ trợ quyết định của nông dân tham gia mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tại An Giang. Các tác giả sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic, phương pháp đánh giá độ tin cậy thang do bằng hệ số Cronbach’s Alpha; và kiểm định giá trị khái niệm của thang đo bằng 5 phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA. Số liệu được thu thập từ 200 hộ nông dân trồng lúa tỉnh An Giang bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Năm nhân tố được sử dụng trong nghiên cứu này, bao gồm: (i) Được đầu tư vật tư nông nghiệp: (ii) Được hướng dẫn kỹ thuật trồng lúa; (ii) Được hỗ trợ thu hoạch và bảo quản; (v) Được chủ động quyết định giá bán và thời điểm bán; và (v) Được thu nhập cao hơn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả 5 nhân tố sử dụng trong mô hình có ảnh hưởng đến quyết định tham gia “Cánh đồng mẫu lớn” của nông dân An Giang. Kết quả nghiên cứu này mang đến những hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp có liên quan nhằm mục đích đạt được kết quả tốt hơn cho nông dân và cho cả doanh nghiệp. Theo Nguyễn Minh Hà và cộng sự (2018) với bài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia mô hình cánh đồng lớn của hộ sản xuất lúa tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Các tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic.
Số liệu thu thập từ 290 hộ sản xuất lúa tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang bằng phương pháp phỏng van trực tiếp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nông hộ có độ tuổi, diện tích đất sản xuất càng lớn và số người trồng lúa trong gia đình càng nhiều thì mức độ tham gia mô hình càng lớn. Ngoài ra việc thuận lợi tiếp cận đường giao thông và đất sản xuất nằm trong khu vực đê bao cũng tác động đến việc tham gia mô hình cánh đồng lớn tỷ lệ thuận. Từ đó các tác giả đã đề xuất các giải pháp như tuyên truyền việc triển khai thực hiện, ứng dụng khoa học công nghệ cao vào mô hình cánh đồng lớn và phối hợp với địa phương tổ chức các lớp chuyển giao khoa học, kỹ thuật về sản xuất nông nghiệp cao nhằm nâng cao trình độ học vấn nông dân giúp nhanh chóng tham gia vào mô hình.
Theo Nguyễn Minh Hà và cộng sự (2020) với bài nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc lựa chọn công nghệ tưới nhỏ giọt của các hộ nông dân trồng nho ở Ninh Thuận. Các tác giả kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy Binary Logistic, xây dựng mô hình kinh tế lượng. Số liệu được thu thập từ 480 hộ trồng nho tại tỉnh Ninh Thuận, trong đó có 201 hộ ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt và 279 hộ không ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp và phương pháp lay mẫu xác suất ngẫu nhiên đề khảo sát. Kết quả nghiên cứu đã tìm thấy trong mô hình ước lượng 21 biến độc lập thì có 15 yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động đến việc ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của hộ trồng nho bao gồm: Tuổi của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, thành phần dân tộc của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, tham gia hội, đoàn thể, vay vốn để đầu tư cho sản xuất, ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất của chủ hộ, diện tích đất trồng nho, số lao động của hộ tham gia trồng nho, khoảng cách về giao thông, khoảng cách về thủy lợi, thu nhập bình quân từ nho, kỳ vọng của hộ về năng suất khi hộ ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, sự hỗ trợ của Nhà nước khi hộ ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, biết thông tin về công nghệ tưới nhỏ giọt.
Từ đó đề xuất một số giải pháp về công tác truyền thông, đây mạnh sự hỗ trợ của Nhà nước và nâng cao kiến thức về công nghệ tưới nhỏ giọt của các hộ trồng nho dé thúc đây các nông hộ mạnh dạn ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt vào sản xuất. Theo Nguyễn Văn Lạc và cộng sự (2021) với bài nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sản xuất rau an toàn của nông hộ tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Các tác giả sử dụng phương pháp thông kê mô tả, phương pháp phân tích hồi quy sử dụng mô hình hồi quy Logit nhị phân (Binary Logistic). Số liệu được thu nhập từ 350 hộ sản xuất rau, trong đó có 150 hộ sản xuất rau an toàn và 200 hộ sản xuất rau truyền thống theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp và phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để khảo sát.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, kiến thức và mức độ hiểu biết về rau an toàn có sự khác biệt giữa hai nhóm hộ, 99% hộ sản xuất rau an toàn có sự hiểu biết rõ về rau an toàn trong khi tỷ lệ là 15% là sản xuất rau truyền thống. Trong đó có năm yếu tố ảnh hưởng tích cực đến quyết định lựa chọn sản xuất rau an toan của hộ bao gồm: trình độ, văn hóa của chủ hộ, quy mô diện tích sản xuất, tham gia tập huấn, mức độ hiểu biết về rau an toàn và đánh giá áp dụng quy trình sản xuất rau an toàn. Dé thúc đây nhằm phát triển sản xuất rau an toàn và tăng cường công tác tập huấn cho hộ sản xuất. Theo Hồ Văn Bé Ba (2021) với bài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định trồng lúa chất lượng cao tại huyện Châu Thành - tỉnh An Giang.
Tác giả sử dụng mô hình hồi quy nhị phân Binary Logistic xác định một số yêu tố có ảnh hưởng đến xác suất trồng lúa chất lượng cao: nhận thức về mức độ thích nghi và lợi nhuận các giống lúa chất lượng cao. Số liệu thu thập từ 138 hộ trồng lúa tại các ấp thuộc xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các nông hộ có diện tích đất sản xuất lớn và nhiều năm sản xuất lúa ít thực hiện chuyền đổi sang trồng lúa chất lượng cao trong vụ Đông Xuân. Bài nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp giảm tỷ lệ sản xuất lúa chất lượng trung bình trong thời gian sắp đến cần tập trung vào việc tăng cường cung cấp thông tin thực tiễn về sự thích nghỉ, năng suất và lợi nhuận từ sản xuất lúa chất lượng cao thông qua tập huấn kỹ thuật và sinh hoạt của các HTX/ Tổ đoàn kết sản xuất.
Theo Nguyễn Thị Ngân Hà và cộng sự (2022) với bài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định tham gia liên kết sản xuất của nông hộ nuôi tôm thẻ chân trang theo mô hình thâm canh tại tỉnh Sóc Trăng. Các tác giả sử dụng phương pháp thông kê mô tả và mô hình hồi quy nhị phân (Binary logistic). Số liệu được thu thập từ 119 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại huyện Mỹ Xuyên và thị xã Vĩnh Châu theo phương pháp chọn hộ ngẫu nhiên có phân tang và được xử lí bằng phần mén Excel và SPSS. Kết quả nghiên cứu chỉ ra có 9 biến ảnh hưởng đến quyết định tham gia liên kết, bao gồm diện tích nuôi, nuôi theo chứng nhận, mật độ nuôi, giá bán, khoảng cách địa lý, tỷ lệ thu nhập từ tôm/ tổng thu nhập, vay vốn và số lần tham gia tập huấn làm tăng xác suất tham gia liên kết.