Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng đô thị hóa ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp tại thành phố Thái Nguyên. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa tại thành phố Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC 1.
Lý luận chung về đất nông nghiệp Khái niệm về đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. - Đất sản xuất nông nghiệp là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm. Đất trồng cây hàng năm là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một năm; bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác. Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch; kể cả loại cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác.
- Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hỏa hoạn nay được đầu tư để phục hồi), đất để trồng rừng mới đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng hoặc đất đã giao để trồng rừng mới). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 - Đất nuôi trồng thủy sản là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thủy sản; bao gồm đất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt. - Đất làm muối là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối. - Đất nông nghiệp khác là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống; xây dựng nhà/kho chuyên chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.
Đặc điểm của đất nông nghiệp - Đất đai được coi là tư liệu sản xuất quan trọng cơ bản cho sản xuất nông nghiệp, bởi vì nó vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động trong quá trình sản xuất. Đất đai là tư liệu lao động bởi vì nếu được sử dụng hợp lý thì không những không bị hao mòn như các tư liệu sản xuất khác mà còn được tái tạo, độ phì nhiêu của đất được tăng lên và đất ngày càng màu mỡ. Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai là nơi con người thực hiện các tác động vào cây trồng để tạo ra sản phẩm. Sự tác động của con người vào môi trường đất đai bằng các biện pháp tiên tiến sẽ làm cho đất đai ngày càng phong phú, màu mỡ.
- Đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn, thuộc nhóm tài nguyên khan hiếm bởi vì vỏ trái đất có giới hạn, ¾ diện tích vỏ trái đất là nước, còn ¼ diện tích còn lại là diện tích đất liền và núi đá. Ngoài ra đối với mỗi vùng, mỗi quốc gia có sự giới hạn về đất sản xuất do trình độ canh tác, thời tiết, khí hậu, địa hình quy định, nhiều nơi do diện tích bị giới hạn nên việc mở rộng quy mô là rất khó khăn. Vì vậy trong sản xuất nông nghiệp chúng ta phải sử dụng đất đai một cách đầy đủ và hợp lý. - Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, miền.
Điều này gắn liền với điều kiện tự nhiên của từng vùng: Điều kiện tự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, quá trình hình thành đất khác nhau, do đó bố trí sản xuất nông nghiệp hợp lý sẽ đem lại thu nhập cao cho các vùng. - Đất nông nghiệp nếu được sử dụng hợp lý thì độ phì nhiêu không ngừng tăng lên, các loại tư liệu khác trong quá trình sản xuất thường bị hao mòn và giảm dần giá trị theo thời gian, còn đất đai không những không bị hao mòn mà còn tăng dần giá trị của sản phẩm nếu chúng ta biết sử dụng và khai thác hợp lý. Đặc điểm này của đất đai xuất phát từ đất đai có độ phì nhiêu tự nhiên cao. Lý luận chung về hiệu quả kinh tế Khái niệm, quan điểm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế (HQKT) là phạm trù kinh tế đa chiều và phức tạp, cũng vì thế có nhiều quan điểm khác nhau được đề cập trong nhiều công trình khoa học.
Để hiểu rõ và góp phần làm sáng tỏ hơn nội dung của HQKT, Luận văn sẽ xem xét, phân tích, kế thừa một số khái niệm, quan điểm cơ bản liên quan đến vấn đề này. Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng hteer là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau. Trên cơ sở thực hiện “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hóa lao động sống) giữa các ngành” sẽ “Tăng năng suất lao động xã hội” hay là tăng hiệu quả. Ông cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động, vượt qua nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở hết thảy của mọi xã hội” (C.
Mác, tư bản, quyển 1, tập 3). Như vậy theo quan điểm của Các Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Theo các nhà khoa học kinh tế Đức là Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmeman cho rằng: HQKT là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần tăng thêm lợi ích của xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 Kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra trong hoạt động sản xuất.
Xuất phát từ mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn về tài nguyên với nhu cầu ngày càng tăng lên của con người, người ta phải xem xét đến chi phí bỏ ra và kết quả thu được. Quan điểm này có ưu điểm là đã xem xét đến chi phí bỏ ra để có được kết quả và phản ánh trình độ sản xuất. Nhược điểm là chưa rõ ràng cụ thể trong xác định tính toán kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất xã hội. Ngày nay, nhiều nhà kinh tế học đã nghiên cứu, phát triển các quan điểm trên và cho rằng: Xác định đúng khái niệm, bản chất của hiệu quả kinh tế cần phải xuất phát từ những luận điểm kinh tế học của Mác “Quy luật tiết kiệm thời gian” cùng với luận điểm của lý thuyết hệ thống.
Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là một hệ thống sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành trong quá trình sản xuất. Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và luôn vận động. Theo nguyên lý đó, khi nhiều phần tử kết hợp thành một hệ thống sẽ phát sinh nhiều tính chất mới mà từng phần tử đều không có, tạo ra hiệu quả lớn hơn tổng hiệu quả của các phần tử riêng lẻ, nhờ sự tác động đồng bộ, phối hợp có tổ chức của các phần tử bộ phận trong một chỉnh thể thống nhất. Do vậy, việc tận dụng khai thác các mối quan hệ phù hợp giữa các bộ phận tối đa là mục tiêu của từng hệ thống.
[12] Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể hiểu HQHT như sau: Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa kết quả kinh tế với chi phí hoặc nguồn lực tương ứng. Phân loại hiệu quả kinh tế Tùy theo mục đích nghiên cứu, HQKT được phân loại theo các tiêu thức chủ yếu sau. + Theo phạm vi tác dụng Theo tiêu thức này, ta có HQKT ở tầm vi mô và HQKT ở tầm vĩ mô. HQKT vi mô là hiệu quả kinh tế về mặt tài chính đối với doanh nghiệp hoặc cơ sở sản xuất phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả tài chính mà doanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 nghiệp hoặc cơ sở sản xuất thu được so với chi phí bỏ ra tương ứng.
Phạm vi nghiên cứu HQKT vi mô thường là đối với từng doanh nghiệp hoặc từng cơ sở sản xuất. HQKT vĩ mô, có thể là đối với ngành, địa phương hoặc đối với toàn bộ nền kinh tế, được biểu hiện bởi quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế mà nền kinh tế và xã hội thu được với chi phí tương ứng. + Theo phạm vi tính Theo tiêu thức này, ta có hiệu quả toàn phần và hiệu quả kinh tế gia tăng. Hiệu quả kinh tế toàn phần là quan hệ so sánh giữa toàn bộ kết quả kinh tế với toàn bộ chi phí bỏ ra tương ứng của từng nhân tố sản xuất hoặc tính chung cho toàn bộ nhân tố sản xuất.
Hiệu quả kinh tế gia tăng phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế gia tăng với chi phí gia tăng tương ứng của từng nhân tố sản xuất hoặc tính chung cho toàn bộ nhân tố sản xuất. Lý luận chung về đô thị và đô thị hoá Khái niệm về đô thị Các khái niệm về đô thị đều có tính tương đối xuất phát từ sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế, xã hội, đặc điểm văn hóa, hệ thống dân cư.