Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa giáo dục, năng lực tiếng Anh chuyên ngành (English for Specific Purposes - ESP) đóng vai trò then chốt giúp sinh viên kỹ thuật tiếp cận tri thức công nghệ tiên tiến. Tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, chương trình đào tạo tiếng Anh được phân bổ thành hai giai đoạn rõ rệt, gồm 405 tiết tiếng Anh đại cương trong 5 học kỳ đầu và 45 tiết tiếng Anh chuyên ngành ở học kỳ 2 năm thứ 3. Trong tổng số 45 tiết học ESP, kỹ năng đọc hiểu chiếm thời lượng áp đảo với 33 tiết (tương đương hơn 73% tổng thời lượng môn học), trong khi 12 tiết còn lại dành cho viết, dịch thuật và kiểm tra đánh giá.

Mặc dù giữ vị thế trọng tâm, việc dạy và học kỹ năng đọc hiểu ESP cho sinh viên khối kỹ thuật vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn về phương pháp sư phạm và tính chủ động của người học. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Phương pháp Giảng dạy Tiếng Anh (mã số: 6014.0111) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bằng, dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phương Nga, được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện các kỹ thuật giảng dạy kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên năm thứ 3 Khoa Điện tại Đại học Công nghiệp Hà Nội.

Nghiên cứu khảo sát 95 sinh viên năm thứ 3 và 4 giảng viên trực tiếp giảng dạy nhằm xác định thực trạng triển khai các chiến lược đọc hiểu theo ba giai đoạn: trước khi đọc (pre-reading), trong khi đọc (while-reading) và sau khi đọc (post-reading). Nghiên cứu đánh giá mức độ lợi ích thu nhận của người học, chỉ ra những bất cập trong việc áp dụng 8 tiêu chí chuẩn mực về giảng dạy đọc hiểu của Williams (1986). Từ đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm thực tiễn nhằm tối ưu hóa 100% tiến trình tổ chức lớp học và nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư điện đáp ứng chuẩn đầu ra thị trường lao động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của luận văn được xây dựng dựa trên sự tích hợp của 3 mô hình xử lý văn bản đọc hiểu kinh điển, 2 hệ thống chiến lược nhận thức và 8 tiêu chuẩn đánh giá sư phạm chuyên sâu:

  • Thuyết Sơ đồ nhận thức (Schema Theory): Theo Johnson (1982) và Nuttall (1996), khả năng hiểu văn bản phụ thuộc trực tiếp vào cấu trúc kiến thức nền tảng (schemata) sẵn có của người học. Quá trình đọc hiểu là sự tương tác liên tục giữa kiến thức chuyên ngành điện sẵn có với thông tin ngôn ngữ mới trên trang sách.
  • Mô hình xử lý thông tin Đọc hiểu: Nghiên cứu phân tích 3 mô hình chính gồm mô hình từ dưới lên (Bottom-up Processing) do Gough (1972) và Silberstein (1994) phát triển, tập trung giải mã từ vựng và cấu trúc ngữ pháp; mô hình từ trên xuống (Top-down Processing) của Goodman (1975), khai thác tri thức nền để dự đoán ngữ nghĩa; và mô hình tương tác (Interactive Processing) của Hayes (1991), kết hợp linh hoạt cả hai hướng xử lý để đạt hiệu quả giải mã văn bản kỹ thuật tối ưu.
  • Phân loại chiến lược Đọc hiểu: Dựa trên nghiên cứu của Wenden và Rubin (1987), O'Malley và Chamot (1990), hệ thống chiến lược được chia thành 2 nhóm chính: chiến lược nhận thức (cognitive strategies như dịch nghĩa, ghi chú, suy luận ngữ cảnh, sơ đồ hóa từ vựng) và chiến lược siêu nhận thức (metacognitive strategies như lập kế hoạch, giám sát mức độ hiểu bài, tự đánh giá).
  • Quy trình 3 giai đoạn giảng dạy đọc hiểu: Áp dụng mô hình chuẩn của Williams (1984) gồm giai đoạn chuẩn bị trước khi đọc (Pre-reading - tạo hứng thú và kích hoạt từ vựng), trong khi đọc (While-reading - rèn luyện kỹ năng đọc lướt skimming, đọc quét scanning, khai thác ý chính) và sau khi đọc (Post-reading - củng cố kiến thức, tóm tắt, liên hệ thực tiễn).
  • Hệ thống 8 tiêu chí đánh giá của Williams (1986): Bộ tiêu chí đo lường tính hấp dẫn của văn bản, trọng tâm hoạt động đọc của sinh viên, vốn từ vựng chuyên ngành, tính tương tác nhóm, vai trò hướng dẫn của giảng viên, tính thực tế của dạng bài tập, sự đóng góp ý nghĩa từ người đọc và mức độ tương thích của tài liệu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng và định tính thông qua công cụ điều tra bảng hỏi (survey questionnaires) dành cho cả hai nhóm đối tượng tác động chính trong môi trường học thuật:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tổng thể nghiên cứu gồm 150 sinh viên năm thứ 3 thuộc 5 lớp chuyên ngành Khoa Điện niên khóa 2014-2015. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo số lớp lẻ (Lớp Điện 1, Điện 3 và Điện 5), phát ra 100 phiếu điều tra và thu về 98 phiếu. Sau khi sàng lọc loại bỏ 3 phiếu thiếu thông tin, cỡ mẫu định lượng hợp lệ đạt 95 sinh viên (tỷ lệ phản hồi hợp lệ đạt 95%, gồm khoảng 79% nam và 21% nữ, độ tuổi từ 20 đến 22). Đồng thời, toàn bộ 4 giảng viên cơ hữu trực tiếp giảng dạy ESP cho Khoa Điện (đều có trình độ Thạc sĩ, kinh nghiệm trên 3 năm) tham gia khảo sát chuyên sâu.
  • Thu thập và phân tích dữ liệu: Thang đo Likert 4 mức độ được sử dụng để đo lường tần suất thực hiện hoạt động (từ 1 = Chưa từng đến 4 = Thường xuyên) và mức độ lợi ích cảm nhận (từ Không có lợi ích đến Rất có lợi ích). Dữ liệu được xử lý bằng thống kê mô tả, phân tích tỷ lệ phần trăm và đối chiếu chéo giữa kết quả tự đánh giá của 4 giảng viên với đánh giá thực tế từ 95 sinh viên.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Khảo sát bảng hỏi ẩn danh giúp thu thập dữ liệu khách quan, tiết kiệm thời gian trên quy mô mẫu lớn, đồng thời tạo điều kiện đối chiếu sự tương thích giữa ý định sư phạm của giảng viên và trải nghiệm tiếp nhận thực tế của người học trong khung thời gian học kỳ 2 năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu khảo sát mang lại những phát hiện nổi bật về bức tranh thực tế trong việc triển khai kỹ thuật giảng dạy đọc hiểu tiếng Anh chuyên ngành Điện tại Đại học Công nghiệp Hà Nội:

  • Sự phân hóa hoạt động trong giai đoạn Pre-reading: Có 89.47% sinh viên và 100% giảng viên khẳng định hoạt động thảo luận theo cặp/nhóm được sử dụng thường xuyên nhất; 73.68% sinh viên cho biết giảng viên thường giới thiệu trực tiếp chủ đề bài học và 68.42% phản ánh giảng viên cung cấp trước thuật ngữ mới. Tuy nhiên, các kỹ thuật kích hoạt tư duy bậc cao như hướng dẫn dự đoán nội dung qua tiêu đề phụ (item 10) bị bỏ quên hoàn toàn với 100% giảng viên và sinh viên xác nhận hiếm khi hoặc chưa từng thực hiện; tương tự, việc ứng dụng trò chơi ngôn ngữ bị 72.37% người học đánh giá là ít xuất hiện.
  • Sự thống trị của kỹ thuật dịch và xử lý từ vựng trong While-reading: 100% sinh viên và giảng viên ghi nhận việc nhận diện từ vựng mới, tra từ điển, đọc thầm tìm ý chính và hoàn thành bảng biểu được áp dụng triệt để. Kỹ năng đọc lướt (skimming) và đọc quét (scanning) đạt tỷ lệ áp dụng cao với 94.74%. Đáng chú ý, có 84.79% sinh viên xác nhận giảng viên duy trì thói quen dịch từng câu sang tiếng Việt (item 4), trong khi kỹ thuật đoán nghĩa từ qua ngữ cảnh lại bị 73.32% sinh viên đánh giá là hiếm khi được rèn luyện.
  • Thực trạng giai đoạn Post-reading: Hoạt động dịch văn bản sang tiếng Việt tiếp tục chiếm ưu thế tuyệt đối với 94.74% sinh viên và 100% giảng viên thừa nhận sử dụng thường xuyên. Ngược lại, kỹ năng tóm tắt ý chính bài đọc bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt chỉ được 26.68% giảng viên thực hiện (bị 73.32% bỏ qua), và hoạt động diễn đạt lại (paraphrasing) bị 78.95% sinh viên đánh giá là không được triển khai trên lớp.
  • Khó khăn sư phạm của giảng viên: 100% giảng viên (4/4 người) thừa nhận gặp trở ngại lớn do thiếu kiến thức nền tảng về kỹ thuật điện, không nắm chắc ngữ nghĩa sâu của thuật ngữ chuyên ngành, thiếu thời lượng giảng dạy, giáo trình thiếu hình ảnh sinh động và sự thụ động của sinh viên. Khoảng 75% giảng viên khẳng định sự chênh lệch trình độ tiếng Anh giữa các sinh viên tạo ra áp lực quản lý lớp học rất lớn.

Thảo luận kết quả

Kết quả khảo sát phản ánh khoảng cách đáng kể giữa lý thuyết phương pháp giảng dạy hiện đại và thực tiễn lớp học ESP. Dữ liệu nghiên cứu khi đối chiếu với 8 tiêu chuẩn của Williams (1986) cho thấy chỉ có 2 trên 8 tiêu chí đạt yêu cầu (Tiêu chí 4 về tổ chức thảo luận nhóm và Tiêu chí 5 về vai trò hướng dẫn của giảng viên). Có tới 6 tiêu chí còn lại (chiếm 75%) đều không đạt chuẩn, đặc biệt là tiêu chí về văn bản tạo hứng thú, sự phong phú của dạng bài tập và khả năng tự đóng góp ý nghĩa của người học.

+-----------------------------------------------------------------------------+
| BẢNG ĐỐI CHIẾU THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY ESP VỚI 8 TIÊU CHÍ WILLIAMS (1986)     |
+------------------------------------+------------------+---------------------+
| Tiêu chí đánh giá                  | Tỷ lệ ghi nhận   | Kết luận chuẩn hóa  |
+------------------------------------+------------------+---------------------+
| 1. Văn bản tạo hứng thú            | 0% (100% chê bai)| Không đạt           |
| 2. Trọng tâm là sinh viên tự đọc   | 25% đạt yêu cầu  | Không đạt           |
| 3. Vốn từ và cấu trúc đa dạng      | 25% đáp ứng      | Không đạt           |
| 4. Tương tác tương hỗ (cặp/nhóm)   | 89.47% tích cực  | ĐẠT YÊU CẦU         |
| 5. Giảng viên đóng vai trò chỉ dẫn | 100% công nhận   | ĐẠT YÊU CẦU         |
| 6. Dạng bài tập gắn liền thực tế   | 21.05% hài lòng  | Không đạt           |
| 7. Người đọc đóng góp ý nghĩa      | 26.32% phát huy  | Không đạt           |
| 8. Lựa chọn văn bản phù hợp        | 25% phù hợp      | Không đạt           |
+------------------------------------+------------------+---------------------+

Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc giáo trình "English for Electrical and Electronics Engineering" gồm 6 bài học lớn nhưng chủ yếu sử dụng các đoạn văn bản kỹ thuật đơn điệu, thiếu hình ảnh minh họa thực tế, sơ đồ mạch điện hay tài liệu catalogue kỹ thuật. Việc 100% giảng viên có xuất thân từ ngành ngôn ngữ Anh tổng quát (General English) khiến họ gặp rào cản tâm lý khi giải thích các khái niệm chuyên sâu về điện tử - cơ điện. Do đó, giảng viên có xu hướng lạm dụng phương pháp truyền thống: dịch từng câu (translation method) và cung cấp sẵn từ vựng thay vì rèn luyện chiến lược đoán nghĩa ngữ cảnh.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của Ahmad Mahdi Shteiwi (2012) tại các trường trung học Misurata và Hamidur Rahman (2007) tại Bangladesh, thực trạng giảng viên đóng vai trò trung tâm và biến sinh viên thành người tiếp nhận thụ động thông qua việc dịch nghĩa từng từ sang tiếng mẹ đẻ là một hạn chế phổ biến ở các nước dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2011) tại Học viện Ngân hàng cũng ghi nhận kết quả tương đồng khi sinh viên thể hiện thái độ chưa tích cực đối với các phương pháp đọc hiểu truyền thống. Khi biểu diễn dưới dạng biểu đồ thanh ngang, mức độ lợi ích cảm nhận của sinh viên đối với hoạt động nhận diện từ vựng đạt đỉnh 100%, trong khi các hoạt động bài tập Đúng/Sai (True/False) chỉ đạt 26.68% sự ủng hộ vì hình thức lặp lại, nhàm chán.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm và phân tích khó khăn sư phạm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy ESP đọc hiểu:

  1. Bồi dưỡng và chuẩn hóa năng lực chuyên môn cho giảng viên ESP:

    • Hành động: Tổ chức các khóa đào tạo nội bộ (in-service training) liên ngành giữa Khoa Ngoại ngữ và Khoa Điện. Giảng viên kỹ thuật chuyên ngành sẽ hướng dẫn giảng viên ngoại ngữ hiểu rõ nguyên lý vận hành thiết bị điện, đọc bản vẽ kỹ thuật và giải thích chính xác 100% thuật ngữ chuyên ngành.
    • Mục tiêu định lượng: 100% giảng viên tham gia tối thiểu 2 buổi tọa đàm chuyên đề mỗi học kỳ; giảm tỷ lệ giảng viên gặp khó khăn về thuật ngữ từ 100% xuống dưới 15% trong vòng 12 tháng.
    • Chủ thể: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo phối hợp cùng Khoa Điện và Khoa Ngoại ngữ.
  2. Đổi mới và biên soạn lại giáo trình tài liệu học tập:

    • Hành động: Thiết kế lại cấu trúc 6 bài học trong giáo trình "English for Electrical and Electronics Engineering". Cắt bỏ các bài tập đơn điệu, bổ sung hình ảnh trực quan, sơ đồ catalogue, bài tập điền sơ đồ luồng (flowchart) và hệ thống câu hỏi trước khi đọc (pre-reading questions).
    • Mục tiêu định lượng: Bổ sung ít nhất 3 đến 5 hình ảnh thực tế hoặc bản vẽ mạch điện cho mỗi bài đọc; nâng mức độ hài lòng của sinh viên đối với giáo trình từ 25% lên trên 80% trong năm học tiếp theo.
    • Chủ thể: Hội đồng học thuật bộ môn ESP tại trường.
  3. Đa dạng hóa các chiến lược đọc hiểu và đổi mới kỹ thuật tổ chức lớp học:

    • Hành động: Giảm tỷ trọng phương pháp dịch câu từ 84.79% xuống mức tối thiểu; tăng cường hướng dẫn kỹ thuật đọc lướt (skimming), đọc quét (scanning), suy luận ngữ cảnh (inferencing) và tóm tắt nội dung (summarizing). Kết hợp trò chơi ngôn ngữ kỹ thuật và hoạt động nhóm để tạo môi trường học tập thoải mái.
    • Mục tiêu định lượng: Tăng tỷ lệ sinh viên tự chủ vận dụng chiến lược đọc đoán nghĩa từ 26.68% lên 70% sau 1 học kỳ can thiệp sư phạm; nâng tỷ lệ sinh viên đạt điểm khá giỏi môn ESP thêm 20%.
    • Chủ thể: Giảng viên trực tiếp phụ trách lớp học phần.
  4. Điều chỉnh phân bổ thời lượng và tăng cường hoạt động tự học:

    • Hành động: Cân nhắc nâng tổng thời lượng môn học từ 45 tiết lên 60 tiết hoặc xây dựng cổng học liệu điện tử cung cấp tài liệu đọc bổ trợ có kèm giải thích thuật ngữ song ngữ để sinh viên chuẩn bị trước ở nhà.
    • Mục tiêu định lượng: 100% sinh viên hoàn thành bài đọc chuẩn bị trước khi lên lớp, rút ngắn 50% thời gian giảng từ vựng thụ động trên giảng đường.
    • Chủ thể: Phòng Đào tạo và Trung tâm Công nghệ Thông tin trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, là tài liệu tham khảo đắc lực cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Giảng viên giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành (ESP Lecturers): Cung cấp hệ thống kỹ thuật triển khai 3 giai đoạn bài đọc (Pre - While - Post reading), cách thức tổ chức làm việc cặp/nhóm hiệu quả và giải pháp khắc phục điểm yếu về kiến thức chuyên ngành khi dạy sinh viên khối kỹ thuật.
  • Các nhà phát triển chương trình và biên soạn giáo trình (Curriculum Developers): Cung cấp căn cứ khoa học với 8 tiêu chí Williams để rà soát, tái cấu trúc bài tập đọc hiểu, tích hợp trực quan hóa và thiết kế nhiệm vụ học tập theo định hướng giao tiếp chuyên ngành.
  • Sinh viên đại học và học viên cao học ngành Phương pháp Giảng dạy Tiếng Anh (ELT Students & Researchers): Cung cấp mô hình nghiên cứu hoàn chỉnh kết hợp khung lý thuyết đọc hiểu (Schema theory, Bottom-up, Top-down, Interactive) với phương pháp điều tra bảng hỏi thực nghiệm, làm tiền đề thực hiện các đề tài khóa luận và luận văn thạc sĩ.
  • Cán bộ quản lý đào tạo tại các trường đại học kỹ thuật: Đưa ra cái nhìn khách quan về nhu cầu thực tế của 95 sinh viên khảo sát và rào cản của 4 giảng viên, giúp nhà trường xây dựng chính sách bồi dưỡng giảng viên liên khoa và chuẩn hóa tài liệu dạy nghề.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tại sao giảng viên ESP thường có xu hướng dịch từng câu thay vì dạy chiến lược đọc hiểu?
Dữ liệu khảo sát từ 4 giảng viên cho thấy 100% giảng viên gặp áp lực do thiếu kiến thức chuyên ngành điện và thiếu thời gian trên lớp. Phương pháp dịch từng câu được xem là giải pháp an toàn nhất giúp giảng viên kiểm soát lớp học và đảm bảo sinh viên nắm nghĩa cơ bản của từ, dù phương pháp này làm giảm tính tương tác và khả năng tư duy ngôn ngữ độc lập của 95 sinh viên.

Câu hỏi 2: Sinh viên đánh giá hoạt động nào mang lại lợi ích cao nhất trong giờ học ESP?
Theo kết quả từ 95 phiếu khảo sát, hoạt động cung cấp trước từ vựng, thuật ngữ ở giai đoạn Pre-reading và nhận diện từ mới ở giai đoạn While-reading đạt mức đánh giá 100% rất có lợi ích. Điều này chứng minh rằng đối với sinh viên kỹ thuật, rào cản thuật ngữ chuyên ngành là trở ngại lớn nhất cần được tháo gỡ trước khi họ có thể vận dụng các kỹ năng đọc hiểu chuyên sâu.

Câu hỏi 3: Bộ 8 tiêu chí của Williams (1986) được áp dụng như thế nào trong luận văn?
Tác giả sử dụng 8 tiêu chí chuẩn mực gồm tính hứng thú của văn bản, ưu tiên thời gian đọc của sinh viên, nền tảng từ vựng, tính tương tác nhóm, vai trò cố vấn của giáo viên, tính thực tế của bài tập, tri thức nền của người đọc và độ phù hợp tài liệu để soi chiếu vào kết quả điều tra. Kết quả cho thấy thực tiễn giảng dạy tại đơn vị chỉ đáp ứng được 2 tiêu chí, còn 6 tiêu chí chưa đạt.

Câu hỏi 4: Quy mô mẫu 95 sinh viên và 4 giảng viên có đảm bảo tính đại diện cho nghiên cứu không?
Mẫu nghiên cứu gồm 95 sinh viên được chọn ngẫu nhiên từ 150 sinh viên của toàn bộ 5 lớp tiếng Anh Khoa Điện năm học 2014-2015, chiếm tỷ lệ hơn 63% tổng thể. Đồng thời, 4 giảng viên tham gia đại diện cho 80% lực lượng giảng dạy ESP ngành Điện tại thời điểm nghiên cứu. Do đó, quy mô mẫu hoàn toàn đảm bảo độ tin cậy và giá trị thực tiễn cho bối cảnh đào tạo tại trường.

Câu hỏi 5: Giải pháp nào khả thi nhất để nâng cao chất lượng dạy đọc hiểu ESP trong ngắn hạn?
Giải pháp ngắn hạn tối ưu là đa dạng hóa dạng bài tập trong 33 tiết đọc hiểu, bổ sung tài liệu trực quan có hình ảnh thực tế của ngành điện và hạn chế tối đa việc dịch chay từng câu. Giảng viên cần tăng cường hướng dẫn kỹ thuật đọc lướt tìm ý chính và đọc quét lấy thông số kỹ thuật, vốn là những kỹ năng được 94.74% người học đánh giá cao.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng giảng dạy kỹ năng đọc hiểu ESP cho sinh viên năm 3 Khoa Điện tại Đại học Công nghiệp Hà Nội qua 3 giai đoạn Pre-reading, While-reading và Post-reading.
  • Dữ liệu khảo sát từ 95 sinh viên và 4 giảng viên chỉ ra sự mất cân đối lớn: các hoạt động dịch nghĩa cơ học chiếm ưu thế, trong khi các chiến lược tư duy như đoán nghĩa từ theo ngữ cảnh hay tóm tắt văn bản bị 70-80% đối tượng bỏ quên.
  • Đánh giá thực nghiệm dựa trên 8 tiêu chí chuẩn của Williams (1986) khẳng định quy trình giảng dạy hiện tại mới chỉ đáp ứng được 2 tiêu chí về tổ chức nhóm và vai trò giảng viên, trong khi 6 tiêu chí về nội dung tài liệu và bài tập chưa đạt chuẩn.
  • Tác giả đã đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi cao: bồi dưỡng kiến thức kỹ thuật cho 100% giảng viên ngoại ngữ, tái cấu trúc giáo trình 6 bài học, đa dạng hóa bài tập trực quan và điều chỉnh thời lượng môn học.
  • Đề tài mở ra hướng nghiên cứu tiếp nối về việc biên soạn bộ giáo trình ESP chuẩn hóa và mở rộng khảo sát kỹ năng nghe - nói - viết chuyên ngành cho toàn bộ 8 khoa kỹ thuật tại nhà trường trong giai đoạn tiếp theo.