phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về đánh giá chất lƣợng viên chức hành chính tại đơn vị sự nghiệp y tế công lập Chƣơng 2. Thực trạng đánh giá chất lƣợng viên chức hành chính tại bệnh viện Trung ƣơng Huế - cơ sở 2 Chƣơng 3. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện đánh giá chất lƣợng viên chức hành chính tại bệnh viện Trung ƣơng Huế - cơ sở 2 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG VIÊN CHỨC HÀNH CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP 1.
Những vấn đề chung về viên chức hành chính, đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Đơn vị sự nghiệp y tế công lập Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) là một bộ phận của bộ máy nhà nƣớc, cung cấp dịch vụ công cơ bản, thiết yếu cho xã hội. Luật Viên chức năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và luật viên chức 2019 ghi nhận khái niệm: “ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc”. Luật Viên chức năm 2010 đã phân định chức năng của ĐVSNCL với cơ quan hành chính nhà nƣớc đồng thời tách bạch đƣợc đội ngũ nhân sự thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc – cán bộ, công chức, với đội ngũ nhân sự thực hiện hoạt động chuyên môn nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập – viên chức.
Ở nƣớc ta, mạng lƣới đơn vị sự nghiệp có phạm vi hoạt động rộng rãi, đƣợc hình thành ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội nhƣ: y tế, giáo dục, kinh tế, văn hóa…Trong đó, lĩnh vực y tế là một trong những lĩnh vực thiết yếu, quan trọng hàng đầu của đời sống xã hội. Nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực y tế nhằm đáp ứng những 11 nhu cầu của cộng đồng dân cƣ về: khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe… Theo Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ quy định về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các ĐVSNYTCL và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập: ĐVSNYTCL là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ QLNN trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như y tế dự phòng; KB,CB, điều dưỡng và phục hồi chức năng, giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần, y dược cổ truyền, kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế, ATVSTP, DS-KHHGĐ, SKSS, truyền thống giáo dục sức khỏe [12]. Nhƣ vậy, ĐVSNYTCL có một số đặc điểm sau: - Đƣợc thành lập và quản lý bởi cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền; - Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nƣớc, của tổ chức có thẩm quyền thành lập; - Có tƣ cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán; - Cung cấp dịch vụ công không nhằm mục đích sinh lợi hoặc phục vụ quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực chuyên môn về y tế. - Nhân sự chủ yếu bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp y tế là viên chức.
Viên chức hành chính Thuật ngữ viên chức đƣợc hiểu với nhiều khía cạnh khác nhau, trong lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về viên chức ở nƣớc ta với thời gian khá dài (từ năm 1945 đến trƣớc năm 2008) thuật ngữ viên chức chƣa đƣợc hiểu thống nhất và thƣờng đƣợc dùng chung để chỉ cụm từ "cán bộ công nhân viên" hoặc "công nhân viên" hoặc đồng nhất cả ba khái niệm cán bộ, công 12 chức, viên chức thành "cán bộ nhà nƣớc" và dùng để chỉ tất cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan, đơn vi, nhà máy, xí nghiệp. của nhà nƣớc. Do đó, khái niệm "cán bộ", "công chức", "viên chức" mà đƣợc sử dụng đồng nhất với "cán bô", "công nhân viên" hoặc gọi chung là công chức. Mặc dù với cách hiểu và nhiều tên gọi khác nhau, song về cơ bản những ngƣời đƣợc gọi là viên chức vẫn tiến hành hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ tại các tổ chức, đơn vị thuộc các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc hoặc tổ chức xã hội với công việc, nhiệm vụ là phục vụ, cung cấp những hoạt động dịch vụ công ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục, thể thao.
những dịch vụ này gắn liền với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc và xã hội. Nhƣ vậy, theo điều 2, Luật viên chức 2010, viên chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại ĐVSNCL theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật. Theo Thông tƣ 12/2022/TT-BNV ngày 30/12/2022 của Bộ Nội vụ hƣớng dẫn về VTVL công chức lãnh đạo, quản lý; nghiệp vụ chuyên môn dùng chung; hỗ trợ, phục vụ trong cơ quan, tổ chức hành chính và VTVL chức danh nghề nghiệp chuyên môn dùng chung; hỗ trợ, phục vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập; quy định danh mục VTVL chức danh nghề nghiệp chuyên môn dùng chung trong ĐVSNCL bao gồm: Hợp tác quốc tế; Pháp chế; Tổ chức cán bộ; Văn phòng; Kế hoạch tài chính. Nhƣ vậy, học viên hiểu khái niệm VCHC nhƣ sau: VCHC là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo các vị trí việc làm: Hợp tác quốc tế; Pháp chế; Tổ chức cán bộ (tổ chức bộ máy và quản lý nguồn nhân lực); Văn phòng; Kế hoạch tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp 13 đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật 1.
Viên chức hành chính trong đơn vị sự nghiệp y tế công lập Từ những phân tích ở trên, học viên hiểu khái niệm VCHC trong ĐVSNYTCL là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo các vị trí việc làm: Hợp tác quốc tế; Pháp chế; Tổ chức cán bộ (tổ chức bộ máy và quản lý nguồn nhân lực); Văn phòng; Kế hoạch tài chính tại ĐVSNYTCL theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật. Qua định nghĩa trên, có thể nhận thấy những đặc điểm cơ bản của VCHC trong ĐVSNYTCL nhƣ sau: - Viên chức là những công dân VN qua quá trình tuyển dụng theo một quy trình nhất định để vào làm tại các vị trí công việc cụ thể: Hợp tác quốc tế; Pháp chế; Tổ chức cán bộ (tổ chức bộ máy và quản lý nguồn nhân lực); Văn phòng; Kế hoạch tài chính tại ĐVSNYTCL; - Thời gian làm việc của VCHC đƣợc tính kể từ khi đƣợc tuyển dụng. Hợp đồng làm việc giữa viên chức và ĐVSNYTCL đã đƣợc ký kết và sẽ có hiệu lực cho đến khi hợp đồng bị chấm dứt hoặc khi viên chức đủ tuổi nghỉ hƣu theo quy định của Bộ luật Lao động. - Về chế độ hợp đồng làm việc: VCHC làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của ĐVSNYTCL theo quy định của pháp luật.
Điều đó có nghĩa giữa VCHC và ĐVSNYTCL có sự thỏa thuận về VTVL, tiền lƣơng, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc ngƣời đƣợc tuyển dụng làm viên chức với ngƣời đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lƣơng, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. 14 - Mã số ngạch viên chức đƣợc sử dụng để phân loại và quản lý viên chức theo từng ngành nghề, trình độ chuyên môn và cấp bậc tƣơng ứng. Đây là những ngƣời mà hoạt động của họ nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu: Hợp tác quốc tế; Pháp chế; Tổ chức cán bộ (tổ chức bộ máy và quản lý nguồn nhân lực); Văn phòng; Kế hoạch tài chính tại ĐVSNYTCL.
Các hoạt động này không đƣợc thực hiện dƣới quyền lực chính trị hay quyền lực công, mà chúng chỉ đơn thuần là những hoạt động chuyên môn, gắn liền với nhiệm vụ và kỹ năng nghề nghiệp. Đánh giá chất lƣợng viên chức hành chính trong đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Chất lượng viên chức hành chính và tiêu chí chất lượng viên chức hành chính 1. Chất lƣợng viên chức hành chính Viên chức nói chung và viên chức hành chính nói riêng là lực lƣợng lao động quan trọng vì thế, luận văn sẽ tiếp cận khái niệm chất lƣợng nguồn nhân lực (NNL) để từ đó đƣa ra khái niệm chất lƣợng viên chức hành chính.
Tác giả Mai Quốc Chánh quan niệm rằng chất lƣợng NNL đƣợc xem sét trên các mặt: trình độ sức khỏe; trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất. Tác giả Vũ Thị Ngọc Phùng lại cho rằng chất lƣợng NNL đƣợc đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng của ngƣời lao động cũng nhƣ sức khỏe của họ. Nhƣ vậy, dù là NNL của một tổ chức hay của toàn xã hội thì chất lƣợng sẽ bao gồm các tiêu chí này, và đƣợc định lƣợng thông qua bằng cấp, các bậc đào tạo chuyên môn và đƣợc đo lƣờng tƣơng đối dễ dàng. Phùng Rân cho rằng chất lƣợng NNL đƣợc đánh giá qua hai tiêu chí: năng lực hoạt động và phẩm chất đạo đức của NNL đó.
Năng lực hoạt động đƣợc thông qua đào tạo, huấn luyện và thời gian làm việc; học 15 hàm, học vị, cấp bậc công việc cũng nhƣ kỹ năng giải quyết công việc. Năng lực này là kết quả giáo dục đào tạo của cộng đồng chứ không phải một tổ chức nào. Nhƣ vậy, quan niệm và cách đánh giá về chất lƣợng NNL của mỗi nhà khoa học có thể đƣợc nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, tùy theo từng lĩnh vực và ở những hoàn cảnh khác nhau, tuy nhiên tựu chung lại có thể hiểu chất lƣợng NNL là mức độ đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu sử dụng nhân lực của tổ chức, đơn vị trên các phƣơng diện: sức khỏe, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất/thái độ, kết quả thực hiện công việc.