Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chợ Quảng Biên thuộc xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai là khu vực thương mại tập trung với hoạt động buôn bán diễn ra sôi động dọc trục Quốc lộ 1A. Theo số liệu thống kê của Ban quản lý chợ, tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại đây ước tính khoảng 20 tấn/ngày. Thành phần rác thải chợ chủ yếu là chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy phát sinh từ hoạt động kinh doanh thực phẩm như rau cải, vỏ khóm, củ cải, vỏ khoai, đầu cá và các phế phẩm nông sản khác.

Thực trạng công tác quản lý chất thải tại khu vực nghiên cứu bộc lộ nhiều bất cập:

  • Công tác thu gom chưa triệt để, rác thải chưa được phân loại đồng bộ tại nguồn; 100% người dân buôn bán được phỏng vấn cho rằng lượng chất thải phát sinh không nhiều và chủ yếu tận dụng thủ công cho chăn nuôi gia súc.
  • Năng lực vận chuyển và công nhân môi trường còn thiếu hụt, dẫn đến tình trạng rác ứ đọng, gây mùi hôi thối, ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và tác động tiêu cực đến cảnh quan xung quanh chợ.
  • Chất thải rắn chợ chủ yếu được xử lý bằng hình thức vận chuyển đến bãi chôn lấp tập trung hoặc thuê đơn vị dịch vụ môi trường xử lý như chất thải thông thường, gây lãng phí nguồn vật chất hữu cơ có khả năng tái chế.

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài "Đánh giá chất lượng phân compost từ quá trình xử lý chất thải rắn hữu cơ tại chợ Quảng Biên, xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai trên cây rau muống hạt (Ipomoea aquatica)" được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm rác thải tại nguồn và tạo nguồn phân bón hữu cơ phục vụ nông nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải rắn hữu cơ tại chợ Quảng Biên bằng phương pháp ủ phân compost, góp phần tái sử dụng chất thải rắn và cung cấp phân bón cho sản xuất nông nghiệp.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định được mô hình ủ phân compost tối ưu để xử lý chất thải rắn hữu cơ tại khu vực nghiên cứu.
    • Đề xuất được mô hình ứng dụng sản phẩm ủ được trong trồng cây rau ngắn ngày rau muống hạt (Ipomoea aquatica).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn hữu cơ thu gom từ các quầy hàng tại chợ Quảng Biên, xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
  • Phạm vi không gian: Chợ Quảng Biên và phòng thí nghiệm/khu vực thực nghiệm tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ tháng 02/2020 đến tháng 05/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý thuyết quá trình phân hủy sinh học hiếu khí và kỵ khí của chất thải hữu cơ dưới tác động của quần thể vi sinh vật qua 4 pha nhiệt độ: pha thích nghi, pha tăng trưởng, pha ưa nhiệt (thermophilic, 55–65°C) và pha trưởng thành (mùn hóa). Các điều kiện kỹ thuật cốt lõi ảnh hưởng đến quá trình ủ bao gồm nhiệt độ, độ ẩm tối ưu (50–60%), tỷ lệ C/N ban đầu (khoảng 30:1), giá trị pH (5.5–8.0), chế độ cấp oxy và kích thước hạt vật liệu (3–50 mm). Về đối tượng sinh học kiểm chứng, cây rau muống hạt (Ipomoea aquatica) thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae) được lựa chọn nhờ đặc tính sinh trưởng nhanh, chu kỳ thu hoạch ngắn ngày (khoảng 25 ngày) và độ nhạy cảm cao với các chỉ tiêu dinh dưỡng của đất và giá thể.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai đồng bộ qua các khâu:

  • Phương pháp thu gom mẫu: Thu gom trực tiếp 500 kg chất thải rắn hữu cơ tại điểm tập kết rác chợ Quảng Biên vào khung giờ 19h30 liên tục trong 3 ngày.
  • Bố trí thí nghiệm ủ phân compost (thực hiện trong 21 ngày): Sử dụng thùng xốp kích thước 80 x 60 cm, bên trong lót bao tải đặt trên khung tre để thu gom nước rỉ rác, lắp đặt hệ thống ống dẫn khí nối với máy thổi khí cưỡng bức bên ngoài. Quá trình ủ bổ sung chế phẩm vi sinh Hitech Trichoderma với mật độ vi nấm Trichoderma spp. đạt $5 \times 10^9\text{ CFU/g}$. Ba mô hình ủ được thiết lập để so sánh:
    • Mô hình 1 (MH1): 100% Chất thải hữu cơ + chế phẩm Trichoderma.
    • Mô hình 2 (MH2): Chất thải hữu cơ + Rơm rạ + chế phẩm Trichoderma.
    • Mô hình 3 (MH3): Chất thải hữu cơ + Phân bò khô + chế phẩm Trichoderma.
  • Bố trí thí nghiệm đánh giá sinh trưởng trên cây trồng (thực hiện trong 25 ngày): Sử dụng đất thịt nông nghiệp phối trộn với phân compost thu được từ 3 mô hình theo 4 nghiệm thức:
    • Nghiệm thức 1 (NT1): Tỷ lệ phân : đất = 1:3.
    • Nghiệm thức 2 (NT2): Tỷ lệ phân : đất = 2:2.
    • Nghiệm thức 3 (NT3): Tỷ lệ phân : đất = 3:1.
    • Nghiệm thức 4 (NT4): 100% phân compost. Thí nghiệm chia thành 3 luống tương ứng với 3 mô hình ủ (mỗi luống diện tích 0.5 m² gồm 12 ô thí nghiệm), mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần (tổng cộng 36 ô), gieo 40 hạt giống/ô.
  • Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
STT Chỉ tiêu theo dõi Phương pháp / Tiêu chuẩn phân tích Thiết bị / Dụng cụ
1 Nhiệt độ khối ủ Đo hàng ngày lúc 6h00–6h30 trước khi cấp khí Nhiệt kế thủy ngân
2 Độ ẩm nguyên liệu và khối ủ Tiêu chuẩn 10 TCN 526:2002 (Sấy ở 105°C) Tủ sấy, cân phân tích
3 Hàm lượng Cacbon tổng số (%C) Phương pháp sấy và nung mẫu ở 550°C trong 1 giờ Lò nung, cân phân tích
4 Hàm lượng Nitơ tổng số (%N) Tiêu chuẩn TCVN 5815:2001 Hệ thống chưng cất Kjeldahl
5 Tỷ lệ C/N Tính toán từ hàm lượng %C và %N Công thức tính toán đại số
6 Độ sụt giảm thể tích Đo chiều cao khối ủ theo diện tích thùng Thước đo thẳng
7 Khối lượng khối ủ Cân trước và sau 21 ngày ủ Cân cơ học / cân điện tử
8 Chỉ tiêu sinh trưởng thực vật Đo tỷ lệ nảy mầm (1–5 ngày), chiều dài thân, rễ, lá (ngày 25) Thước đo thẳng, đếm thủ công

Dữ liệu thực nghiệm được thu thập, tổng hợp và xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ lượng rác hữu cơ phát sinh lớn tại chợ Quảng Biên (xã Quảng Tiến có mật độ dân số 2.016 người/km²), gây áp lực lên hệ thống thu gom và bãi chôn lấp tập trung. Phần này xác định mục tiêu tổng quát, 2 mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu là CTRHC chợ Quảng Biên, phạm vi không gian tại địa bàn huyện Trảng Bom và phạm vi thời gian thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2020.

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý chất thải và công nghệ ủ compost:

  • Phân loại nguồn gốc và thành phần chất thải rắn, phân tích các công nghệ xử lý cơ học (nén, đóng kiện, Hydromex, Seraphin), phương pháp nhiệt (đốt, nhiệt phân, khí hóa) và phương pháp sinh học.
  • Cơ sở lý thuyết của quá trình phân hủy sinh học hiếu khí và kỵ khí; các yếu tố công nghệ kiểm soát khối ủ (nhiệt độ, độ ẩm, C/N, pH, oxy, kích thước hạt từ 3–50 mm, khối lượng riêng dao động 180–400 kg/m³).
  • Đặc điểm thực vật học, sinh học, thành phần dinh dưỡng và công dụng của cây rau muống (Ipomoea aquatica).
  • Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước (Phan Thị Thanh Thủy & Nguyễn Văn Việt, Hà Thanh Toàn, Nguyễn Thị Phương, Phạm Thị Mỹ Trâm) và quốc tế (Arslan, Karak, Janakiram & Sridevi, Rawat) về quá trình ủ compost từ phế phẩm hữu cơ, bùn thải và rác sinh hoạt.
  • Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Quảng Tiến và hiện trạng quản lý CTR tại chợ Quảng Biên: tổng lượng CTR phát sinh khoảng 20 tấn/ngày, việc phân loại tại nguồn chưa hiệu quả, thiếu cơ chế phối hợp cụ thể giữa các cấp quản lý và nhận thức của tiểu thương còn hạn chế.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu và quy trình thực nghiệm:

  • Thu gom mẫu: 500 kg CTRHC tại chợ Quảng Biên trong 3 ngày vào lúc 19h30.
  • Bố trí 3 mô hình ủ compost trong thùng xốp kích thước 80 x 60 cm có hệ thống cấp khí cưỡng bức và chế phẩm vi sinh Trichoderma ($5 \times 10^9\text{ CFU/g}$).
  • Quy trình đo đạc và kiểm soát các thông số lý - hóa của khối ủ trong 21 ngày (nhiệt độ đo hàng ngày lúc 6h–6h30 sáng; độ ẩm theo 10 TCN 526:2002; %C nung ở 550°C; %N theo TCVN 5815:2001; tỷ lệ C/N; độ sụt giảm thể tích và khối lượng).
  • Thiết kế thí nghiệm trồng kiểm chứng cây rau muống hạt trên 3 luống (3 mô hình phân) với 4 nghiệm thức tỷ lệ phối trộn phân:đất (1:3, 2:2, 3:1, 100% compost), lặp lại 3 lần trên 36 ô thí nghiệm, gieo 40 hạt/ô và theo dõi các chỉ tiêu phát triển rễ, thân, lá trong 25 ngày.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm và đối chiếu với các nghiên cứu tiền nhiệm:

  • Phân tích thông số nguyên liệu đầu vào: CTRHC chợ có độ ẩm ban đầu 63%, %C đạt 32.5%, tỷ lệ C/N đạt 9.85. Việc phối trộn với rơm (C/N = 84) và phân bò khô (C/N = 20) giúp điều chỉnh tỷ lệ C/N của MH2 và MH3 lên mức 16–20.
  • Động thái nhiệt độ trong 21 ngày ủ: Cả 3 mô hình đều đạt ngưỡng nhiệt ưa nhiệt (55–65°C) để diệt mầm bệnh. MH1 đạt cực đại 63°C vào ngày thứ 7; MH2 đạt 62°C vào ngày thứ 7; MH3 đạt 60°C vào ngày thứ 8. Sau thao tác đảo trộn và bổ sung ẩm vào ngày thứ 11, nhiệt độ tăng trở lại mức 55–59°C trước khi giảm dần về 39°C và mức nhiệt độ môi trường ở ngày thứ 21.
  • Biến thiên độ ẩm: Sau 21 ngày, độ ẩm các mô hình giảm từ 60–63% xuống 25–34% (MH1 đạt 34%, MH2 đạt 25%, MH3 đạt 29%), toàn bộ đều đạt tiêu chuẩn ngành 10 TCN 526:2002 ($\le 35%$).
  • Độ sụt giảm thể tích và khối lượng:
    • Thể tích: MH1 giảm 55.36%, MH2 giảm 64.00% (cao nhất), MH3 giảm 42.31% (thấp nhất, thể tích giảm 0.077 m³ do bị nén ép ban đầu).
    • Khối lượng: MH1 giảm từ 70 kg xuống 31 kg (giảm 55.71%), MH2 giảm từ 95 kg xuống 27 kg (giảm 71.20%), MH3 giảm từ 90 kg xuống 52 kg (giảm 42.22%).
  • Biến thiên %C, %N và tỷ lệ C/N:
    • Hàm lượng %C sau ủ: MH1 đạt 19.xx%, MH2 đạt 15.61%, MH3 đạt 24.61%.
    • Hàm lượng %N: Sau ủ, hàm lượng %N ở cả 3 mô hình đều suy giảm và không đạt ngưỡng tiêu chuẩn theo TCVN 5815:2001.
    • Tỷ lệ C/N sau ủ: MH1 đạt 14.96, MH2 dao động trong khoảng 11–13, MH3 đạt 10.17.
  • Đánh giá chất lượng phân compost trên cây rau muống: Theo dõi tốc độ nảy mầm từ 1–5 ngày và các chỉ tiêu sinh trưởng rễ, thân, lá sau 25 ngày gieo trồng trên các nghiệm thức phối trộn.
  • Đề xuất mô hình tối ưu: Lựa chọn Mô hình 1 (100% chất thải hữu cơ + chế phẩm Trichoderma) là mô hình khả thi và hiệu quả nhất do đạt đỉnh nhiệt độ diệt khuẩn tốt (63°C), độ ẩm thành phẩm phù hợp (34%), tốc độ khoáng hóa cao và không tốn chi phí mua vật liệu độn phối trộn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm định lượng về các thông số biến đổi lý - hóa trong quá trình ủ compost từ rác thải chợ Quảng Biên:

Thông số theo dõi Mô hình 1 (100% CTHC) Mô hình 2 (CTHC + Rơm) Mô hình 3 (CTHC + Phân bò) Tiêu chuẩn so sánh / Ngưỡng kỹ thuật
Nhiệt độ ban đầu (°C) 25.0 24.5 24.5 Nhiệt độ môi trường
Nhiệt độ cao nhất đạt được (°C) 63.0 (Ngày thứ 7) 62.0 (Ngày thứ 7) 60.0 (Ngày thứ 8) 55.0 – 65.0°C (Ngưỡng ưa nhiệt)
Độ ẩm ban đầu (%) 63.0 60.0 60.0 50.0 – 60.0%
Độ ẩm sau 21 ngày ủ (%) 34.0 25.0 29.0 $\le 35.0%$ (10 TCN 526:2002)
Khối lượng ban đầu (kg) 70.0 95.0 90.0 Cân thực tế
Khối lượng sau 21 ngày ủ (kg) 31.0 27.0 52.0 Cân thực tế
Tỷ lệ sụt giảm khối lượng (%) 55.71 71.20 42.22 Khối lượng bay hơi và khoáng hóa
Tỷ lệ sụt giảm thể tích (%) 55.36 64.00 42.31 Đo suy giảm chiều cao thùng ủ
Hàm lượng %C sau ủ (%) 19.xx 15.61 24.61 Ngưỡng hữu cơ mùn hóa
Tỷ lệ C/N sau ủ 14.96 11.0 – 13.0 10.17 Ngưỡng compost ổn định
Đánh giá cảm quan màu sắc Đen sẫm, kết dính Vàng nâu (rơm chưa ngấu) Nâu đen, tơi xốp rời rạc Mùn hữu cơ tiêu chuẩn

Đóng góp và giải pháp kiến nghị của đề tài:

  • Về mặt công nghệ: Chứng minh tính khả thi của việc ủ compost hiếu khí quy mô nhỏ có cấp khí cưỡng bức và bổ sung chế phẩm vi sinh Trichoderma ($5 \times 10^9\text{ CFU/g}$) đối với chất thải hữu cơ chợ nông thôn mà không bắt buộc phải phối trộn thêm phụ liệu đắt tiền.
  • Về mặt môi trường và kinh tế: Giảm thiểu hơn 55% khối lượng và thể tích chất thải rắn hữu cơ phải vận chuyển đến bãi chôn lấp tập trung, hạn chế phát sinh nước rỉ rác và mùi hôi tại chợ Quảng Biên, đồng thời tạo ra nguồn phân hữu cơ tái sử dụng cho sản xuất rau màu tại địa phương.
  • So sánh khoa học: So với các nghiên cứu của Lưu Thị Hồng Ngọc (chợ Bà Rịa) hay Chế Thị Minh Thư (chợ Trà Cổ), mô hình nghiên cứu này duy trì được dải nhiệt độ diệt khuẩn ổn định hơn (đạt đỉnh 63°C so với 31.5°C của Chế Thị Minh Thư) nhờ kiểm soát tốt chế độ cấp khí và quy trình đảo trộn ẩm ở ngày thứ 11.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài (dựa trên các phát hiện thực tế trong văn bản):

  • Thời gian ủ thí nghiệm giới hạn trong 21 ngày nên quá trình khoáng hóa và chuyển hóa mùn chưa diễn ra triệt để; rơm rạ ở Mô hình 2 chưa phân hủy hoàn toàn.
  • Hàm lượng Nitơ tổng số (%N) sau 21 ngày ủ ở cả 3 mô hình đều bị suy giảm do thất thoát khí trong quá trình thông khí hiếu khí và chưa đạt chỉ tiêu phân bón hữu cơ theo tiêu chuẩn TCVN 5815:2001.
  • Tỷ lệ C/N thành phẩm sau ủ dao động từ 10.17 đến 14.96, thấp hơn khoảng tối ưu lý thuyết (16–20).
  • Thí nghiệm bố trí ngoài trời trong thùng xốp nên chịu ảnh hưởng bởi nhiệt độ và bức xạ mặt trời làm tăng tốc độ bay hơi nước bề mặt; thử nghiệm sinh học mới thực hiện trên 01 đối tượng duy nhất là cây rau muống hạt trong thời gian 25 ngày.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Kéo dài thời gian ủ compost (trên 30–45 ngày) để đánh giá độ chín hoàn toàn của mùn và sự ổn định của các hợp chất hữu cơ.
  • Nghiên cứu biện pháp bổ sung khoáng hoặc tối ưu hóa tỷ lệ phối trộn ban đầu để hạn chế thất thoát Nitơ, nâng cao chỉ tiêu %N đạt chuẩn TCVN 5815:2001.
  • Mở rộng thử nghiệm hiệu lực sinh học của phân compost trên nhiều đối tượng cây trồng nông nghiệp và cây ăn lá khác nhau.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường, Khoa học môi trường, Nông học, Kỹ thuật môi trường tham khảo về phương pháp bố trí thí nghiệm ủ compost hiếu khí quy mô vừa và nhỏ có bổ sung chế phẩm vi sinh.
  • Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, huyện, Ban quản lý các chợ dân sinh trong việc xây dựng phương án kỹ thuật xử lý và tái chế chất thải hữu cơ dễ phân hủy tại nguồn, giảm tải chi phí thu gom vận chuyển.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản gồm: quy trình thiết kế thùng ủ xốp có cấp khí cưỡng bức, quy chuẩn kiểm soát nhiệt độ - độ ẩm theo ngày, bảng đối chiếu tiêu chuẩn phân tích (10 TCN 526:2002, TCVN 5815:2001) và thiết kế nghiệm thức phối trộn đất - phân đánh giá sinh trưởng cây trồng ngắn ngày.

Câu hỏi thường gặp

1. Chất thải rắn hữu cơ đầu vào được thu thập như thế nào và có đặc tính lý - hóa ban đầu ra sao?
Chất thải rắn hữu cơ được thu gom trực tiếp tại điểm tập kết rác chợ Quảng Biên vào lúc 19h30 liên tục trong 3 ngày với tổng khối lượng 500 kg. Thành phần nguyên liệu đầu vào có độ ẩm đạt 63%, hàm lượng Cacbon tổng số (%C) đạt 32.5%, hàm lượng Nitơ (%N) đạt khoảng 3.3% và tỷ lệ C/N đạt 9.85.

2. Hệ thống thùng ủ compost thực nghiệm được thiết kế và vận hành với chế độ cấp khí như thế nào?
Thí nghiệm sử dụng thùng xốp kích thước 80 x 60 cm, đáy thùng lót bao tải đặt trên khung tre để tách và thu hồi nước rỉ rác. Khối ủ được cung cấp oxy bằng hệ thống ống dẫn khí nối với máy cấp khí điện bên ngoài để thổi khí cưỡng bức hàng ngày. Mỗi mô hình được cấy bổ sung chế phẩm vi sinh Hitech Trichoderma với mật độ vi nấm $5 \times 10^9\text{ CFU/g}$.

3. Tại sao nhiệt độ khối ủ lại tăng mạnh ở tuần đầu và tăng trở lại vào ngày thứ 11?
Trong 7–8 ngày đầu, vi sinh vật hiếu khí phân hủy mạnh các hợp chất hữu cơ dễ tiêu làm giải phóng lượng nhiệt lớn, đưa nhiệt độ khối ủ lên pha ưa nhiệt (60–63°C). Sau đó, nhiệt độ giảm dần do cơ chất cạn bớt. Đến ngày thứ 11, tác giả tiến hành đảo trộn khối ủ và bổ sung thêm nước, kích thích các cơ chất chưa phân hủy tiếp tục tiếp xúc với oxy và vi sinh vật, dẫn đến phản ứng sinh nhiệt tăng trở lại mức 55–59°C trước khi hạ dần.

4. Vì sao tác giả kết luận Mô hình 1 (100% CTRHC) là mô hình tối ưu hơn Mô hình 2 và Mô hình 3?
Mô hình 1 đạt nhiệt độ cao nhất trong quá trình ủ (63°C), đảm bảo tiêu diệt mầm bệnh; độ ẩm sau 21 ngày đạt 34% (thỏa mãn tiêu chuẩn ngành 10 TCN 526:2002 là $\le 35%$); mức độ sụt giảm thể tích (55.36%) và sụt giảm khối lượng (55.71%) phản ánh quá trình mùn hóa diễn ra tốt. Đặc biệt, Mô hình 1 tận dụng trực tiếp 100% rác chợ mà không phát sinh chi phí mua vật liệu phối trộn độn như rơm rạ hay phân bò khô.

5. Kết quả phân tích hàm lượng Nitơ tổng số (%N) và tỷ lệ C/N sau 21 ngày ủ phản ánh điều gì?
Hàm lượng %N ở cả 3 mô hình sau 21 ngày đều suy giảm và chưa đạt ngưỡng theo TCVN 5815:2001 do một phần đạm bị bay hơi dưới dạng khí NH3 trong quá trình thông khí. Tỷ lệ C/N sau ủ dao động từ 10.17 đến 14.96 (trong đó MH1 đạt 14.96), thấp hơn mức tối ưu lý thuyết (16–20), cho thấy thời gian 21 ngày cần được kéo dài hơn để chất hữu cơ đạt độ chín và tỷ lệ dinh dưỡng cân bằng hoàn toàn.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thị Tú Anh đã khảo sát thành công thực trạng phát sinh chất thải tại chợ Quảng Biên và chứng minh tính khả thi của giải pháp ủ compost hiếu khí có cấp khí cưỡng bức kết hợp chế phẩm Trichoderma để xử lý chất thải hữu cơ tại nguồn. Kết quả thực nghiệm xác định Mô hình 1 (100% chất thải hữu cơ) là phương án xử lý tối ưu, giúp giảm hơn 55% khối lượng và thể tích chất thải, đồng thời đạt tiêu chuẩn về nhiệt độ diệt khuẩn và độ ẩm thành phẩm theo quy chuẩn ngành. Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn và phát triển nông nghiệp hữu cơ tại địa phương.