ĐẶT VẤN ĐỀ Nhắc đến “Nƣớc” là nói đến sự khởi nguồn và duy trì sự sống trên Trái Đất. Nƣớc là một nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta, có ảnh hƣởng quyết định đến khí hậu và là nhân tố tạo ra các quá trình khí tƣợng. Trung bình mỗi ngày con ngƣời cần 60-80 lít nƣớc để phục vụ nhu cầu hàng ngày của mình. Nƣớc chiếm tới 99% trọng lƣợng sinh vật sống trong môi trƣờng nƣớc và chiếm 70% trọng lƣợng cơ thể con ngƣời.
Chính vì vậy nƣớc là yếu tố vô cùng quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển sự sống trên Trái Đất, cần phải trân trọng và bảo vệ nó. Nhƣng với hiện trạng nƣớc đã và đang suy giảm nhƣ hiện nay thì nƣớc sạch đƣợc dự báo sớm trở thành một dạng tài nguyên quý giá. Có rất nhiều nguyên nhân đƣợc đƣa ra xoay quanh vấn đề ô nhiễm này nhƣ hoạt động Công – Nông - Lâm nghiệp xả thải bừa bãi ra ngoài môi trƣờng nhƣng chƣa có giải pháp nào thực sự thích đáng cho vấn đề này. Việt Nam là nƣớc đang phát triển, mặc dù tài nguyên nƣớc là tƣơng đối đa dạng và phong phú, nhƣng lại có sự phân bố không đồng đều về cả không gian và thời gian.
Tình trạng hạn hán, khan hiếm nguồn nƣớc cũng nhƣ hiện tƣợng gây mƣa lũ xả ra phổ biến ở nhiều vùng địa phƣơng. Hơn nữa, dƣới dự tác động của việc bùng nổ dân số, chất thải sinh hoạt, chất thải công – nông – nghiệp và do hành vi của con ngƣời đã khiến cho nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân ngày càng bị ô nhiêm , gây ảnh hƣởng xấu tới sức khỏe, đời sống của hàng triệu ngƣời dân ở cả thành thị và nông thôn trên cả nƣớc. Xã Đông Yên là một xã thuần nông thuộc huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, là một xã nằm ở phía Tây Hà Nội, đời sống nhân dân vẫn còn gặp khó khăn. Tuy nhiên trong những năm gần đây cùng với sự đi lên và phát triển của đất nƣớc, Đông Yên đang có nhiều thành tựu trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đời sống ngƣời dân không ngừng đƣợc cải thiện.
Đi kèm với sự phát triển đó, ô nhiễm môi trƣờng đang là vấn đề đƣợc ngƣời dân và chính quyền các cấp ở địa phƣơng rất quan tâm đến, trong đó có ô nhiễm nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân trong khu vực. Tuy nhiên, hiện nay tại xã vẫn chƣa có công trình nghiên cứu nào về chất lƣợng nƣớc sinh hoạt. Chính vì vậy đề tài đã tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” nhằm góp phần cung cấp cơ sở cho việc đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nƣớc sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Ô nhiễm tài nguyên nước Ô nhiễm tài nguyên nƣớc là hiện tƣợng các vùng nƣớc nhƣ sông, hồ, biển, nƣớc ngầm. bị các hoạt động của con ngƣời làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con ngƣời và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Ô nhiễm tài nguyên nƣớc là sự thay đổi thành phần và chất lƣợng nƣớc không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hƣởng xấu đến đời sống con ngƣời và sinh vật (UNICEF Việt Nam, 2016).
Nƣớc dùng cho sinh hoạt a. Khái niệm - Nƣớc sinh hoạt là nguồn nƣớc đƣợc sử dụng hàng ngày cho nhu cầu sinh hoạt nhƣ tắm, giặt giũ, nấu nƣớng, rửa, vệ sinh…. Thƣờng không sử dụng để ăn, uống trực tiếp. - Nƣớc sinh hoạt đảm bảo (nƣớc sạch) là nƣớc có có tiêu chuẩn đạt quy chuẩn kỹ thuật quôc gia về chất lƣợng nƣớc sinh hoạt QCVN 02:2009/BYT.
Về cơ bản nƣớc đạt các yêu cầu: không màu, không mùi, không vị lạ, không có các thành phần gây ảnh hƣởng đến cho sức khỏe con ngƣời. - Nƣớc ăn uống là loại nƣớc dùng để ăn uống, nƣớc dùng cho các cơ sở chế biến thực phẩm [6]. Các loại nguồn nước sinh hoạt được sử dụng phổ biến nhất hiện nay - Nguồn nƣớc ngầm: Nƣớc ngầm đƣợc khai thác dƣới hai hình thức là : giếng khoan và giếng đào + Nƣớc giếng khoan là nƣớc đƣợc lấy (khoan) từ các mạch nƣớc ngầm sâu trong lòng đất, qua các tầng địa chất. Nƣớc này thƣờng có nhiều nguyên tố khoáng, khó kiểm soát đƣợc chất lƣợng do tùy thuộc vào mạch nƣớc khoan đƣợc + Nƣớc giếng đào: Tƣơng tự nhƣ nƣớc giếng khoan nhƣng thay vì khoan thì đƣợc đào đất lên, thƣờng có độ nông hơn so với nƣớc giếng khoan [6].
- Nguồn nước mưa: 2 Các hộ gia đình hiện nay, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn thƣờng lƣu trữ nƣớc mƣa để sử dụng cho các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên nguồn nƣớc mƣa thƣờng có tính axit và hiện nay ô nhiễm môi trƣờng nặng nề dẫn đến chất lƣợng nƣớc mƣa không đảm bảo [6]. - Nguồn nước máy đã qua xử lý của nhà máy nước Nguồn nƣớc này thƣờng đƣợc sử dụng nhiều ở các khu vực thành phố, một số khu vực ngoại thành, tỉnh lẻ. Nƣớc cấp là nƣớc ngầm hoặc nƣớc sông sau đó đi qua hệ thống xử lý nƣớc của các nhà máy thƣờng là lọc thô qua bể lắng, khử sắt sau đó qua khử trùng bằng clo để cung cấp nƣớc cho các hộ dân cƣ.
Nguồn nƣớc máy này thƣờng có kiểm nghiệm về chất lƣợng đạt tiêu chuẩn sinh hoạt của Bộ Y Tế quy định. Tuy nhiên do chất lƣợng nguồn nƣớc cấp quá đặc thù, do sự lỗi thời, xuống cấp của các công nghệ xử lý của nhà máy, quy trình thau rửa, nâng cấp, bảo trì không đảm bảo nên nguồn nƣớc này không có chất lƣợng ổn định. Một số ví dụ điển hình nhƣ nƣớc máy ở các nhà máy khu Mỹ Đình, Hà Đông. Hà Nội bị ngƣng, đình chỉ hoạt động do phát hiện nguồn nƣớc sinh hoạt cung cấp không đảm bảo chất lƣợng (vƣợt chỉ tiêu Asen, Amoni, Mangan, khuẩn…) gây ảnh hƣởng đến sức khỏe, cuộc sống của ngƣời dân các khu vực này [16].Hiện trạng tài nguyên nƣớc ở Việt Nam Theo Chiến lƣợc quốc gia về tài nguyên nƣớc đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 2.372 con sông lớn nhỏ có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính.
Trong số này có 9 sông là sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Ba sông Đồng Nai, sông Cửu Long và bốn nhánh sông là sông Đà, sông Lô, sông Sê San, sông Srê Pok đã tạo nên một lƣu vực trên 10.000km2, chiếm khoảng 93% tổng diện tích của mạng lƣới sông ngòi Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam có rất nhiều các loại hồ tự nhiên, hồ đập, vực nƣớc có kích thƣớc khác nhau tùy thuộc vào mùa. Một số hồ lớn đƣợc biết đến 3 nhƣ hồ Lắc rộng 10km2 tại tỉnh Đắk Lắk Biển Hồ rộng 2,2km2 Gia Lai, hồ Ba Bể rộng 5km2 tại Bắc Kạn và hồ Tây rộng 4,5km2 tại Hà Nội. Các đầm phá lớn thƣờng gặp ở cửa sông vùng duyên hải miền Trung nhƣ Tam Giang, Cầu Hai và Thị Nại.
Việt Nam còn có hàng ngàn hồ đập nhân tạo với tổng sức chứa lên đến 26 tỷ m3 nƣớc. Sáu hồ lớn nhất có sức chứa trên 1 tỷ m3 đang đƣợc sử dụng để khai thác thủy điện là hồ Hòa Bình, Thác Bà, Trị An, Dầu Tiếng, Thác Mơ và Ya Ly. Nhiều hổ và đập nhỏ hơn trên khắp toàn quốc phục vụ tƣới tiêu nhƣ Cấm Sơn - Bắc Giang, Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh và Phú Ninh - Quảng Nam. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, cả nƣớc hiện có hơn 3.500 hồ chứa lớn nhỏ và khoảng 650 hồ chửa cỡ lớn và trung bình dùng để sản xuất thủy điện, kiểm soát lũ lụt, giao thông thủy, thủy lợi và nuôi trồng thủy sản.
Mặc dù tài nguyên nƣớc của Việt Nam có trữ lƣợng dồi dào, nhƣng trên thực tế nguồn nƣớc có thể sử dụng ngay lại có hạn vì phân bố không đều. Nhiều vùng bị thiếu nƣớc sạch để sinh hoạt do ô nhiễm, lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán và các tác nhân khác. Chất lƣợng nƣớc cũng bị suy giảm nghiêm trọng đã hủy hoại môi trƣờng sống và đẩy con ngƣời đến gần các rủi ro nguy hiểm. Ƣớc tính khoảng 37% lƣợng nƣớc mất đi do lãng phí, thậm chí có nơi lên đến 50%.
Nguyên nhân là một phần hệ thống tƣới tiêu của Việt Nam đƣợc xây dựng từ thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trƣớc đến nay đã bị xuống cấp và hƣ hỏng nặng. Trong khi có hệ thống tƣới tiêu hiện tại chi có khả năng cung cấp nƣớc cho khoảng 50 - 60 % theo yêu cầu thiết kế đƣợc tƣới. Trong những năm gần đây, việc quản lý tài nguyên nƣớc ở Việt Nam đƣợc cải thiện đáng kể về mặt pháp lý, cấu trúc thể chế và các cơ chế, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Luật Tài nguyên nƣớc đã đƣợc chính thức ban hành từ năm 1998 và các văn bản hƣớng dẫn pháp quy tiếp theo, đã cung cấp các quy định về quản lý, điều hành, lƣu trữ, khai thác và sử dụng tài nguyên nƣớc trên toàn quốc.
Sự thay đổi về thể chế trong quản lý tài nguyên nƣớc đã khuyến khích đƣợc quá trình phi tập trung hóa, đẩy mạnh sự tham gia 4 rộng rãi của các thành phần ngoài nhà nƣớc trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nƣớc, cung cấp nƣớc sinh hoạt và nƣớc tƣới tiêu để phục vụ các mục đích khác nhau. Gần đây, cách tiếp cận quản lý tài nguyên nƣớc tổng hợp và dựa trên lƣu vực đã đƣợc đẩy mạnh ở Việt Nam. Về nguyên tắc, tài nguyên nƣớc không chỉ đƣợc xem nhƣ “tài sản chung” mà còn là “hàng hóa có giá trị thƣơng mại và kinh tế”. Do đó, Chính phủ đã áp dụng một số cơ chế nhằm tăng cƣờng hiệu quả, hiệu lực quản lý nƣớc ở các khía cạnh khác nhau về chính sách, kỹ thuật thực hiện, năng lực và cơ sở hạ tầng.
Tuy vậy, cho đến nay có rất ít nghiên cứu hoặc đánh giá toàn diện về quản lý tài nguyên nƣớc ở Việt Nam. Chính điều này đã hạn chế nỗ lực phát triển và quảng bá hiểu biết về quản lý nƣớc dựa vào cộng đồng, cũng nhƣ thúc đẩy việc áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn [5]. Vấn đề cấp nƣớc sinh hoạt tại các vùng nông thôn và đô thị ở Việt Nam Đời sống sinh hoạt hằng ngày của con ngƣời sử dụng rất nhiều nƣớc sinh hoạt.