Tổng quan nghiên cứu

Hồ Thác Bà là một trong những hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam với diện tích lưu vực rộng trên 23.400 ha, diện tích mặt nước khoảng 19.050 ha và tổng dung tích chứa đạt 2,94 tỷ m3. Được hoàn thành vào năm 1970 với mục tiêu chính là phục vụ Nhà máy Thủy điện Thác Bà có công suất 108 MW, công trình này đồng thời đóng vai trò then chốt trong việc cấp nước sinh hoạt, điều tiết tưới tiêu nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch sinh thái cho tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của các hoạt động dân sinh, mật độ nuôi cá lồng dày đặc, chất thải chăn nuôi gia súc và nước chảy tràn từ các khu vực canh tác nông nghiệp tại 26 xã, thị trấn ven hồ đang tạo áp lực lớn lên chất lượng nước mặt, tiềm ẩn nguy cơ suy thoái môi trường thủy vực.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Bùi Xuân Diệu thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhằm đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước mặt vùng lòng hồ Thác Bà và xác định khả năng chịu tải môi trường của thủy vực này. Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi không gian bao gồm 21 xã thuộc huyện Yên Bình và 5 xã thuộc huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái trong giai đoạn năm 2018 đến 2019. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về 25 chỉ tiêu lý hóa và vi sinh, lượng hóa tải lượng các nguồn thải chính và dự báo sức chịu tải của hồ ở các kịch bản cốt nước 46m, 52m và 57m. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, hỗ trợ các nhà quản lý xây dựng phương án kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn hệ sinh thái 1.334 hòn đảo và định hướng khai thác bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Chảy.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý tổng hợp tài nguyên nước và lý thuyết cân bằng vật chất bảo toàn khối lượng trong thủy vực hồ chứa. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước nhấn mạnh mối quan hệ tương tác mật thiết giữa lưu vực đầu nguồn và chất lượng nước hạ lưu, gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Mô hình cân bằng vật chất được thiết lập dựa trên nguyên lý: tổng lượng chất ô nhiễm tồn tại trong hồ bằng lượng chất ô nhiễm ban đầu cộng với lượng chất ô nhiễm đi vào từ các nguồn thải, trừ đi lượng chất ô nhiễm thoát ra khỏi đập thủy điện và mức độ tự phân hủy sinh hóa của hồ.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được vận dụng gồm: Sức chịu tải của môi trường nước mặt, Khả năng tự làm sạch của hồ chứa, Tải lượng ô nhiễm từ nguồn điểm và nguồn diện, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT (áp dụng Cột A2 cho mục đích cấp nước sinh hoạt sau xử lý và Cột B2 cho nguồn nước tiếp nhận xả thải), cùng hướng dẫn kỹ thuật tính toán sức chịu tải theo Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp kết hợp thứ cấp thu thập trong năm 2018. Cỡ mẫu thực nghiệm gồm 50 mẫu nước mặt được thu thập qua 02 đợt quan trắc (25 mẫu/đợt vào tháng 10/2018 và tháng 11/2018) tại 25 vị trí đại diện trải dài 80 km từ thượng nguồn huyện Lục Yên, vùng giữa lòng hồ, hạ lưu sau đập thủy điện công suất 108 MW tại thị trấn Thác Bà, đến 4 cửa ngòi chính tiếp nhận nước thải.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng nguyên tắc phân tầng không gian và lấy mẫu có chủ đích theo các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia TCVN 6663-1:2011, TCVN 6663-3:2003 và TCVN 5994:1995. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm kiểm tra 25 thông số bao gồm pH, oxy hòa tan DO, tổng chất rắn lơ lửng TSS, nhu cầu oxy sinh hóa BOD5, amoni NH4+, nitrit NO2-, nitrat NO3-, phosphat PO43-, tổng Nitơ, tổng Phốt pho, các kim loại nặng và Coliform. Lý do lựa chọn tổ hợp chỉ tiêu này nhằm nhận diện chính xác mức độ ô nhiễm hữu cơ và hiện tượng phú dưỡng hóa bắt nguồn từ thức ăn nuôi cá lồng và phân gia súc. Khả năng tự làm sạch của hồ được tính toán theo công thức hàm lượng đầu vào - đầu ra kết hợp thời gian lưu nước tại 3 mức nước đặc trưng: 46m (mực nước kiệt), 52m (mực nước trung bình) và 57m (mực nước dâng bình thường).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích 50 mẫu nước mặt và các nguồn thải ngoại lai đổ vào hồ Thác Bà đem lại bốn phát hiện khoa học quan trọng:

Thứ nhất, nguồn nước ngoại vi chảy vào hồ ghi nhận nồng độ ô nhiễm hữu cơ cao. Mẫu nước tại 4 cửa ngòi lớn gồm Ngòi Lâu (xã Đông Quan), Cầu Vân (xã Phúc Lợi), Vĩnh An (xã Bảo Ái) và Ngòi Lự (xã Cẩm Ân) đều có hàm lượng BOD5 vượt giới hạn quy định tại QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B2, đóng vai trò là các điểm nóng đưa tải lượng ô nhiễm vào lòng hồ.

Thứ hai, chất lượng nước trong lòng hồ cơ bản vẫn đạt tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt nhưng đã xuất hiện dấu hiệu suy giảm cục bộ. Đa số các vị trí quan trắc đạt quy chuẩn Cột A2, tuy nhiên tại các khu vực tập trung nuôi cá lồng mật độ cao ở xã Xuân Lai, Mỹ Gia và khu dân cư thị trấn Yên Bình, chỉ tiêu BOD5 và Coliform đã vượt nhẹ ngưỡng cho phép từ 1,1 đến 1,3 lần.

Thứ ba, nguồn phát thải Nitơ (N) và Phốt pho (P) nội tại phát sinh chủ yếu từ thức ăn công nghiệp nuôi cá lồng và chất thải chăn nuôi gia súc tại huyện Yên Bình và Lục Yên. Lượng phân thải từ đàn trâu bò cùng thức ăn thủy sản dư thừa đóng góp hàng trăm tấn Nitơ và Phốt pho mỗi năm trực tiếp xuống tầng nước mặt.

Thứ tư, tính toán sức chịu tải theo Thông tư 76/2017/TT-BTNMT tại 3 kịch bản mực nước 46m, 52m và 57m khẳng định hồ Thác Bà có dung tích trữ nước lớn (2,94 tỷ m3) nên khả năng tự làm sạch các chất ô nhiễm N và P vẫn được duy trì tốt, đảm bảo an toàn nguồn nước đến các mốc dự báo năm 2020 và 2030.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm cục bộ là do hoạt động nuôi cá lồng phát triển tự phát vượt quy hoạch tại một số xã ven bờ, kết hợp với lượng mưa trung bình năm lớn (2.121 mm) tạo dòng chảy tràn cuốn theo chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý từ 21 xã của huyện Yên Bình và 5 xã của huyện Lục Yên vào lòng hồ.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua bảng tổng hợp phát thải Nitơ, Phốt pho theo từng xã và hệ thống biểu đồ so sánh biến thiên nồng độ DO, BOD5, TSS, NH4+, NO3-, PO43- giữa ba vùng: thượng lưu, giữa hồ và hạ lưu đập thủy điện. Biểu đồ mặt bằng không gian cho thấy các eo ngách kín gió có hàm lượng DO giảm xuống dưới 5 mg/L vào mùa khô, trong khi khu vực lòng hồ chính luôn duy trì DO cao trên 6,5 mg/L.

So sánh với các nghiên cứu tại hồ thủy điện Hòa Bình và hồ Thác Mơ, hồ Thác Bà có lợi thế về thời gian lưu nước dài và dung tích đệm lớn, giúp quá trình khoáng hóa tự nhiên diễn ra thuận lợi. Tuy nhiên, cấu trúc địa hình gồm 1.334 hòn đảo tạo ra nhiều phân lưu hẹp làm giảm tốc độ trao đổi nước giữa các vịnh kín với dòng chính sông Chảy khoảng 25-30%, làm tăng nguy cơ phú dưỡng hóa nếu không kiểm soát chặt lượng thức ăn thủy sản dư thừa.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo vệ chất lượng nước mặt hồ Thác Bà và khai thác bền vững tài nguyên lưu vực, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Quy hoạch và kiểm soát nuôi cá lồng: Rà soát, cắt giảm 15% đến 20% số lượng lồng nuôi tại các eo ngách có khả năng lưu thông nước kém thuộc huyện Yên Bình. Chuyển đổi 100% cơ sở nuôi sang sử dụng thức ăn viên công nghiệp nổi chất lượng cao nhằm hạn chế lắng đọng chất hữu cơ xuống đáy hồ, hoàn thành trong giai đoạn 2020-2025 dưới sự chủ trì của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái.
  2. Xây dựng công trình xử lý chất thải sinh hoạt và chăn nuôi: Vận động và hỗ trợ kỹ thuật để trên 85% số hộ chăn nuôi trâu, bò quy mô trang trại xây dựng hầm Biogas hoặc bể tự hoại hợp quy chuẩn trước năm 2025. Kiểm soát nồng độ BOD5 trong nước thải sinh hoạt nông thôn đạt ngưỡng xả thải an toàn dưới 30 mg/L do UBND huyện Yên Bình và Lục Yên thực hiện.
  3. Thiết lập mạng lưới quan trắc tự động và cảnh báo sớm: Đầu tư lắp đặt tối thiểu 04 trạm quan trắc nước mặt tự động liên tục tại các cửa ngòi xung yếu (Ngòi Lâu, Ngòi Lự) và vùng hạ lưu đập thủy điện Thác Bà, kết nối truyền dữ liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái từ năm 2021 đến 2025.
  4. Quản lý rừng phòng hộ lưu vực và kiểm soát xả thải khoáng sản: Tăng cường khoanh nuôi và bảo vệ rừng đầu nguồn ven hồ, nâng tỷ lệ che phủ rừng lưu vực lên trên 65% nhằm hạn chế xói mòn đất và giảm 25% lượng bồi lắng phù sa vào lòng hồ chứa đến năm 2030, do Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Công ty Thủy điện Thác Bà quản lý.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái, Chi cục Bảo vệ Môi trường và Phòng Tài nguyên Môi trường 2 huyện Yên Bình, Lục Yên có thể sử dụng bộ số liệu 50 mẫu quan trắc và phương pháp tính toán sức chịu tải để làm căn cứ cấp phép xả thải, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và lập quy hoạch phát triển kinh tế ven hồ.
  2. Đơn vị quản lý và vận hành hồ chứa thủy điện: Ban lãnh đạo Công ty Thủy điện Thác Bà (công suất 108 MW) sử dụng các kịch bản tính toán chất lượng nước ở 3 mực nước 46m, 52m và 57m để tối ưu hóa quy trình xả lũ, cấp nước hạ du gắn liền với duy trì khả năng tự làm sạch của hồ.
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên nước tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam và các viện nghiên cứu có thể kế thừa phương pháp luận cân bằng vật chất theo Thông tư 76/2017/TT-BTNMT phục vụ các đề tài nghiên cứu mở rộng trên các hệ thống hồ chứa lớn.
  4. Doanh nghiệp và hợp tác xã nuôi trồng thủy sản, du lịch: Các hộ nuôi cá lồng và đơn vị kinh doanh du lịch sinh thái trên 1.334 đảo hồ Thác Bà áp dụng các định mức kỹ thuật về thức ăn và quản lý chất thải nhằm bảo vệ môi trường nước nuôi, ngăn ngừa dịch bệnh thủy sản và nâng cao giá trị thương mại.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hồ Thác Bà có quy mô diện tích và dung tích chứa như thế nào? Hồ Thác Bà có diện tích lưu vực hơn 23.400 ha, diện tích mặt nước đạt 19.050 ha và tổng dung tích 2,94 tỷ m3. Hồ trải dài 80 km qua địa phận 21 xã thuộc huyện Yên Bình và 5 xã thuộc huyện Lục Yên, bao gồm 1.334 hòn đảo với mực nước dao động theo thiết kế từ 46m đến 60m.

  2. Nguồn thải nào gây nguy cơ ô nhiễm lớn nhất đối với nước mặt hồ Thác Bà? Nguồn phát thải chính gồm chất thải chăn nuôi gia súc, nước thải sinh hoạt nông thôn và lượng thức ăn dư thừa từ hàng nghìn lồng nuôi cá. Đặc biệt, nước mặt chảy vào hồ từ 4 cửa ngòi lớn gồm Ngòi Lâu, Cầu Vân, Vĩnh An và Ngòi Lự có nồng độ BOD5 vượt chuẩn B2 theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT.

  3. Chất lượng nước hồ Thác Bà có đáp ứng yêu cầu cấp nước sinh hoạt không? Theo kết quả phân tích 50 mẫu nước mặt, phần lớn diện tích lòng hồ đạt chuẩn Cột A2 theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT, đảm bảo cấp nước sinh hoạt sau khi áp dụng công nghệ xử lý phù hợp. Dù vậy, một số vị trí ven bờ và vùng nuôi cá lồng đã xuất hiện dấu hiệu vượt nhẹ chỉ tiêu BOD5 và Coliform cục bộ.

  4. Khả năng tự làm sạch của hồ Thác Bà diễn biến thế nào theo các kịch bản mực nước? Tại mực nước dâng bình thường 57m, hồ đạt dung tích trữ tối đa nên khả năng tự làm sạch Nitơ và Phốt pho đạt mức cao nhất. Khi mực nước rút về cốt chết 46m vào mùa kiệt, nồng độ chất ô nhiễm có xu hướng tích tụ tăng nhưng hồ vẫn duy trì được sức chịu tải ổn định đến năm 2030.

  5. Luận văn đã ứng dụng phương pháp nào để tính toán sức chịu tải môi trường nước hồ? Nghiên cứu ứng dụng mô hình cân bằng vật chất kết hợp công thức xác định khả năng tự làm sạch LSi theo quy định tại Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, dựa trên bộ số liệu quan trắc thực nghiệm 25 chỉ tiêu lý hóa vi sinh thu thập trong năm 2018.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập bức tranh toàn diện về chất lượng nước mặt hồ Thác Bà (dung tích 2,94 tỷ m3) thông qua kết quả phân tích 50 mẫu quan trắc thực địa tại 25 vị trí đại diện trong năm 2018.
  • Nhận diện 4 điểm nóng ô nhiễm ngoại lai tại các cửa ngòi và hiện tượng ô nhiễm hữu cơ BOD5 cục bộ tại một số phân khu nuôi cá lồng thuộc huyện Yên Bình.
  • Định lượng thành công sức chịu tải và khả năng tự làm sạch của hồ ở 3 kịch bản mực nước 46m, 52m, 57m, khẳng định nguồn nước hồ vẫn đáp ứng tốt yêu cầu tự đồng hóa chất ô nhiễm đến năm 2030.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho công tác quản lý liên ngành nguồn nước lưu vực sông Chảy và quy hoạch kinh tế - xã hội tại 26 xã, thị trấn ven hồ.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, quản lý, quan trắc tự động và bảo vệ rừng phòng hộ với lộ trình cụ thể từ năm 2020 đến 2030.

Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là việc lượng hóa cụ thể mối quan hệ giữa biến động mực nước hồ chứa với sức chịu tải ô nhiễm hữu cơ, làm cơ sở thực nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách tỉnh Yên Bái. Để bảo tồn bền vững nguồn nước hồ Thác Bà, các cơ quan chức năng, doanh nghiệp thủy điện và cộng đồng địa phương cần nhanh chóng phối hợp thực thi các giải pháp kiểm soát xả thải và triển khai quan trắc tự động liên tục trong giai đoạn tới.