MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ƣớc tính rằng ô nhiễm không khí là nguyên nhân của hơn ba triệu trƣờng hợp tử vong sớm hàng năm trên toàn thế giới [36]. SO2, các hạt bụi có thể xâm nhập vào bộ phận hô hấp của con ngƣời. NO2, CO là các chất ô nhiễm chính phát sinh chủ yếu từ các phƣơng tiện giao thông vận tải chạy bằng động cơ diesel.
Các chất ô nhiễm này cùng với chất ô nhiễm thứ cấp là O3, gây ra tác động không nhỏ tới sức khỏe, tài sản, và môi trƣờng sống của con ngƣời. Ô nhiễm không khí cũng đang nhận đƣợc sự quan tâm chú ý của Chính phủ Việt Nam trong những năm gần đây. Thủ tƣớng Chính phủ Việt Nam đã có quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29 tháng 01 năm 2007 về việc phê duyệt "Quy hoạch tổng thể mạng lƣới quan trắc tài nguyên và môi trƣờng quốc gia đến năm 2020" trong đó có quy hoạch mạng lƣới quan trắc tự động chất lƣợng môi trƣờng không khí toàn quốc [7]. Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là một lƣợng lớn thông tin, dữ liệu về môi trƣờng không khí sẽ đƣợc bổ sung, cập nhật mỗi giờ, mỗi ngày, và mỗi năm, buộc chúng ta phải tiếp nhận và hiểu nó.
Việc có đƣợc hệ thống quan trắc chất lƣợng môi trƣờng không khí đáp ứng yêu cầu thật sự không dễ. Sử dụng, tổng hợp, phân tích chuỗi số liệu quan trắc này làm cơ sở cho việc đánh giá chất lƣợng môi trƣờng không khí toàn diện, có tính thuyết phục lại càng không đơn giản. Về khía cạnh môi trƣờng, công chúng hay các nhà chức trách đều muốn có câu trả lời cho câu hỏi liên quan đến chất lƣợng môi trƣờng không khí xung quanh, ―tốt hơn hay xấu đi?‖ hoặc ―nó có ô nhiễm hay không và nếu ô nhiễm thì ở mức độ nào?‖ Họ mong muốn câu trả lời ngắn gọn, đơn giản và dễ nắm bắt. Mặt khác, các nhà khoa học hay các chuyên gia trong lĩnh vực này lại có thể thấy đây là câu hỏi không đơn giản chút nào, nó đòi hỏi có sự phân tích của hàng trăm phép đo nồng độ các chất ô nhiễm khác nhau, đôi khi phức tạp do thiếu dữ liệu, dữ liệu không đồng nhất hoặc tồn tại sự mơ hồ, không chắc chắn trong kết quả.
Thật không may, những ngƣời đặt câu hỏi thƣờng không hài lòng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với câu trả lời tƣơng đƣơng một quyển sổ dày hàng trăm trang với một loạt các số liệu thô theo thời gian, hay các phân tích thống kê về các chất ô nhiễm tại các địa điểm khác nhau. Chỉ số chất lƣợng không khí (CLKK) tổng hợp là một công cụ hữu hiệu giúp tìm ra câu trả lời súc tích. Ở Việt Nam, trong mấy năm gần đây (từ 2010 đến nay) mới bắt đầu tiếp cận ứng dụng chỉ số chất lƣợng/ ô nhiễm không khí để đánh giá tổng hợp CLKK. Tháng 7 năm 2011, Tổng cục Môi trƣờng ban hành QĐ 878/QĐ – TCMT về việc hƣớng dẫn tính toán chỉ số chất lƣợng môi trƣờng không khí [9].
Năm 2012, tác giả Nghiêm Trung Dũng và cộng sự cũng có bài báo nghiên cứu về chỉ số chất lƣợng không khí AQI (theo phƣơng pháp của Mỹ) công bố trên tạp chí Khí tƣợng Thủy văn số 613, tháng 1 năm 2012 [4]. Tác giả Phạm Ngọc Hồ đã thiết lập chỉ số ô nhiễm không khí tƣơng đối (Relative Air Pollution Index) – RAPI đƣợc phát triển từ chỉ số ô nhiễm không khí tổng cộng (TAPI) để đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm không khí [1, 5, 6, 20, 31]. Bất kỳ một phƣơng pháp đánh giá chất lƣợng môi trƣờng nào đều có ƣu, nhƣợc điểm của nó. Theo thời gian, chỉ số chất lƣợng môi trƣờng tổng hợp ngày càng hoàn thiện hơn cả về hình thức lẫn phƣơng pháp thiết lập thì vai trò của nó cũng đƣợc mở rộng.
Chính vì vậy, trong luận văn: “Đánh giá chất lượng môi trường không khí bằng chỉ tiêu tổng hợp dựa trên chuỗi số liệu quan trắc tự động tại thành phố Hà Nội và Đà Nẵng”, tác giả sử dụng đồng thời 3 chỉ số: 2 chỉ số AQI và RAPI để đánh giá chất lƣợng môi trƣờng không khí xung quanh khu vực trạm quan trắc tự động tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Đà Nẵng và xem xét mức độ phù hợp của kết quả thu đƣợc so với số liệu thực tế, đồng thời xây dựng biểu đồ tần suất chất lƣợng môi trƣờng không khí ngày theo các tháng trong năm tại 2 thành phố khảo sát. Mục tiêu đề tài - Áp dụng chỉ số AQI - TC (Chỉ số AQI do Tổng cục Môi trƣờng ban hành); AQI - NTD (Chỉ số AQI đƣợc thiết lập theo hàm tuyến tính phân đoạn 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Mỹ do tác giả Nghiêm Trung Dũng và cộng sự công bố) và RAPI (chỉ số do tác giả Phạm Ngọc Hồ đề xuất) để đánh giá chất lƣợng/ mức độ ô nhiễm môi trƣờng không khí tại hai thành phố Hà Nội và Đà Nẵng. So sánh, nhận xét và giải thích các kết quả của các phƣơng pháp. - Đánh giá xu thế diễn biến mức độ ô nhiễm không khí ngày (thông qua tần suất f) theo các tháng trong năm làm cơ sở cho việc đƣa ra khuyến cáo sử dụng các chỉ số trong việc cảnh báo tổng hợp mức độ ô nhiễm không khí tại các đô thị ở nƣớc ta.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu liên quan đến trạm quan trắc chất lƣợng không khí tự động cố định. Hiện trạng mạng lưới quan trắc chất lượng không khí tự động cố định quốc gia Các trạm quan trắc không khí tự động, cố định trên toàn quốc hoạt động dƣới sự quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (17 trạm) hoặc Sở Tài nguyên Môi trƣờng các tỉnh (khoảng 11 trạm). Các trạm do Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng quản lý đƣợc vận hành bởi Tổng cục Môi trƣờng (7 trạm), Trung tâm Mạng lƣới Khí tƣợng Thủy văn (10 trạm) [3,10].
Mạng lƣới quan trắc CLKK nền, nền vùng Quốc gia, trạm sinh thái do Trung tâm Mạng lƣới Khí tƣợng Thủy văn và Môi trƣờng/Trung tâm KTTV Quốc gia (Bộ TN&MT) xây dựng, lắp đặt và vận hành. Các trạm quan trắc đƣợc kết nối với trung tâm quản lý, điều hành tại Trung tâm Mạng lƣới Khí tƣợng và Môi trƣờng đặt tại 62, Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội (Khí tƣợng Láng, Đống Đa, Hà Nội) [10]. Trong khuôn khổ Dự án ―Tăng cƣờng thiết bị tự động quan trắc môi trƣờng không khí và nƣớc‖ theo Quyết định số 1698/QĐ-BTNMT ngày 29 tháng 10 năm 2007 của Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng và Quyết định số 1073/QĐ-BTNMT ngày 11 tháng 6 năm 2009 của Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 07 trạm quan trắc môi trƣờng không khí tự động đã đƣợc đầu tƣ, xây dựng nhằm tăng cƣờng công tác giám sát ô nhiễm và quản lý môi trƣờng quốc gia [3]. Tổng kết vị trí và các thông số đo của các trạm do Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng quản lý đƣợc trình bày trong phần phụ lục 1.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bản đồ phân bố các trạm quan trắc không khí cố định và tự động do Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng quản lý Nhƣ vậy, có thể thấy khối lƣợng số liệu quan trắc hàng giờ và hàng năm tƣơng đối lớn, nhu cầu tổng hợp số liệu và tính toán để đơn giản hóa kết quả quan trắc rất cao. Trong phạm vi luận văn, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu lại chỉ còn 2 trạm là Nguyễn Văn Cừ (Hà Nội) và Lê Duẩn (Đà Nẵng) do Tổng cục Môi trƣờng thiết kế, lắp đặt và vận hành. Đồng thời đánh giá sơ lƣợc tình hình số liệu của 2 trạm.
Đây là các trạm lắp đặt khá sớm trong khuôn khổ dự án ―Tăng cƣờng thiết bị tự động quan trắc môi trƣờng không khí và nƣớc‖. Tổng quan về 2 trạm đƣợc trình bày trong phần tiếp theo. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giới thiệu chung về trạm quan trắc CLKK tự động tại Nguyễn Văn Cừ (Hà Nội) và Lê Duẩn (Đà Nẵng) Trong phần này, tác giả trình bày thông tin chung về 2 trạm quan trắc nghiên cứu, chủ yếu dựa trên báo cáo của các trạm quan trắc này, đồng thời trình bày khái quát về tình hình hiện trạng môi trƣờng không khí khu vực dựa trên các báo cáo hiện trạng môi trƣờng không khí chính thức của Tổng cục Môi trƣờng và các tài liệu khác có liên quan.
VIỆT NAM Quần đảo Hoàng Sa (Việt Nam) Quần đảo Trƣờng Sa (Việt Nam) Hình 2. Bản đồ 2 trạm quan trắc không khí cố định, tự động đƣợc khảo sát Trạm Nguyễn Văn Cừ [12] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trạm quan trắc môi trƣờng không khí tự động, cố định tại 556 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên. Trạm Nguyễn Văn Cừ hoàn thành lắp đặt vào tháng 5 năm 2009. Địa điểm lắp đặt trạm Trạm quan trắc tự động, cố định đƣợc lắp đặt cách đƣờng giao thông Nguyễn Văn Cừ 30m và nằm trong khuôn viên của toà nhà 5 tầng của Tổng cục Môi trƣờng.
Đây là trục đƣờng có mật độ giao thông lớn, là cửa ngõ phía Đông và Đông Bắc của thành phố Hà Nội. Tọa độ của trạm: Kinh độ: 21o2’56,3‖; Vĩ độ: 105o52’58,8‖ Thời gian quan trắc Trạm Nguyễn Văn Cừ là trạm không khí tự động liên tục, bắt đầu hoạt động từ 01tháng 6 năm 2009. Tần suất quan trắc của trạm Nguyễn Văn Cừ là 5 phút/lần. Hệ thống máy tính lƣu trữ số liệu cũng có thể xuất ra các giá trị trung bình 1 giờ.
Kết quả quan trắc đƣợc sử dụng chính là số liệu trung bình 1 giờ. Từ đó tính ra các trung bình số học 24 giờ, trung bình tháng là trung bình số học các giá trị trung bình 24 giờ của từng ngày trong tháng. Trạm Lê Duẩn (Đà Nẵng) [12] Trạm quan trắc môi trƣờng không khí tự động, cố định tại số 41, Lê Duẩn, Hải Châu, Đà Nẵng thuộc Trung tâm Quan trắc Môi trƣờng Tổng cục Môi trƣờng. Trạm Lê Duẩn hoàn thành lắp đặt vào tháng 7 năm 2010.
Từ đó đến nay, trạm đã cung cấp chuỗi số liệu liên tục và ổn định về chất lƣợng môi trƣờng không khí tại khu vực đặt trạm. Tuy nhiên trong khoảng tháng 7 năm 2011 đến khoảng tháng 11 năm 2011 số liệu trạm Lê Duẩn bị mất do sét đánh nên không có dữ liệu.