Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng ngân hàng điện tử đối với nhóm khách hàng cá nhân tại VCB chi nhánh Thanh xuân 4 CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU 1. Ngân hàng điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử Phát triển ngân hàng điện tử là xu thế chung trên toàn thế giới, là xu thế hoạt động của ngân hàng Việt Nam. Có thể nói, nó đang tác động đến ngân hàng, xúc tiến việc sáp nhập, hợp nhất, hình thành các ngân hàng lớn, nâng cao nguồn vốn tự có đủ sức trang bị công nghệ thông tin hiện đại để đương đầu với cuộc cạnh tranh khốc liệt giành lợi thế về mình. Mặt khác, nó cũng đẩy mạnh việc liên kết, hợp tác giữa các ngân hàng ngày càng chặt chẽ, phát triển đa dạng, mạnh mẽ, rộng khắp trong nước và thế giới.
Trong thời gian qua, dịch vụ ngân hàng điện tử đối với nhóm khách hàng cá nhân đang có sự phát triển mạnh mẽ. Tại Hà nội và TP. Hồ Chí Minh đang đối với mặt với cuộc chiến về dịch vụ ngân hàng điện tử cá nhân giữa các ngân hàng thương mại. Cuộc cạnh tranh về dịch vụ ngân hàng điện tử cũng ngày một nóng dần khi nhu cầu của người tiêu dùng đòi hỏi ngày càng cao các dịch vụ tài chính – ngân hàng dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại.
Theo đó, đòi hỏi các ngân hàng phải có đầu tư, đa dạng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng điện tử đa năng. Theo đánh giá của một chuyên gia trong ngành, nhiều ngân hàng hiện nay đã đầu tư xây dựng được nền tảng và chuẩn bị cơ sở hạ tầng tốt để sẵn sàng đem đến dịch vụ ngân hàng điện tử tốt nhất cho khách hàng. Vị này cho biết, điểm qua một lượt các ngân hàng đình đám có thể thấy, các ngân hàng đã bắt kịp xu hướng này và có sự đầu tư kỹ lưỡng từ rất sớm. Khách hàng cá nhân khi có nhu cầu có thể thỏa sức lựa chọn các sản phẩm ngân hàng điện tử mà không cần phải tốn công sức để đến các chi nhánh của ngân hàng thực hiện giao dịch.
Việc phát triển kinh doanh dịch vụ ngân hàng điện tử đối với khách hàng cá nhân mang thương hiệu riêng của từng ngân hàng đang là cơ hội rất tốt, nếu các ngân hàng biết tìm đúng nhu cầu khách hàng thì sẽ dành được chiến thắng lớn trong thị trường kinh doanh ngân hàng điện tử đầy cạnh tranh này.1Khái quát chung về ngân hàng điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử a)Định nghĩa về ngân hàng điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử Ngân hàng điện tử là ngân hàng mà các dịch vụ được cung cấp qua các phương tiện kỹ thuật điện tử, khách hàng không cần đến trực tiếp tại các chi nhánh của ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện được các giao dịch và nắm bắt được thông tin tài chính của mình. Dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với Ngân hàng.Với dịch vụ ngân hàng điện tử, khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới. Hiện nay, một số người vẫn đồng nhất dịch vụ ngân hàng điện tử (E- banking) với dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Internet banking). Nếu như dịch vụ NHTT là việccung ứng các dịch vụ ngân hàng thông quamạngInternet, thìdịch vụNHĐT lại bao gồm cả việccung cấpcácdịch vụthông qua một sốphương tiện khác như: fax,điện thoại, email, ATM, internet.
Internet banking chỉ là một trong dịch vụ của e-banking và với nhưng lợi thếso với các phương tiện kháclà phí giao dịch rẻ, tốc độ nhanh, linh động về thời gian và địa điểm thì Internet Banking được coi là linh hồn của E- banking. b)Các dịch vụ ngân hàng điện tử Internet banking Dịch vụ nàycho phép quý khách hàng đơn giản hóa hoạt động thanh toán và thực hiện giao dịch trực tuyến mà không cần đến ngân hàngcùng như kiểm soát hoạt động của các tài khoản này. Để tham gia, khách hàng truy cập vào website của ngân hàng và thực hiện giao dịch tài chính, truy vấn thông tin cần thiết. Thông tin rất phong phú, từ chi tiết giao dịch của khách hàng đến những thông tin khác về ngân hàngnhư giá vàng, tỷ giá ngoại tê, lãi suất.Khách hàng cùng có thể truy cập vào các website khác để mua hàng, trả tiền điện, nước, điện thoại, internet, thuế thu nhập cá nhân qua việcthực hiên thanh toán với ngân hàng.
Tuy nhiên,ngân hàng phải có hệ 6 thống bảo mật đủ mạnh để đối phó với rủi ro trên phạm vi toàn cầu. Đây là trở ngại lớn đối với các ngân hàng tại Việt Nam vì đầu tư vào hệ thống bảo mật rất tốn kém. Home Banking Đây là cụm các dịch vụ cho phép khách hàng quản lý từ xa thông tin tài khoản của mình tại bất kỳ điểm giao dịch nào.Với ngân hàng tại nhà, khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng nhưng là mạng nội bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng riêng. Các giao dịch được tiến hành tại nhà, văn phòng, công ty thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính của ngân hàng.
Thông qua dịch vụ Home Banking, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch về chuyển tiền, liệt kê giao dịch, tỷ giá, lãi suất, giấy báo nợ. Để sử dụng dịch vụ Home Banking, khách hàng chỉ cần có máy tính kết nối với hệ thống máy tính của ngân hàng thông qua modem hoặc đường điện thoại quay số, khách hàng phải đăng ký số điện thoại và chỉ số điện thoại này mới được kết nối với hệ thống Home Banking của ngân hàng. Phone Banking Phone Banking là hệ thống tự trả lời các thông tin về dịch vụ, sản phẩm ngân hàng qua điện thoại của ngân hàng. Khách hàng nhấn vào các phím trên điện thoại theo hướng dẫn của ngân hàng để yêu cầu hệ thống trả lời các thông tin cần thiết.Đây là sản phẩm cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động.
Do tự động nên các loại thông tin được ấn định trước, bao gồm thông tin về tỉ giá hối đoái, lãi suất, giá vàng, giáchứng khoán, thông tin cá nhân cho khách hàng như số dư tài khoản, liệt kê năm giao dịch cuối cùng trên tài khoản, các thông báo mới nhất. Hệ thống cùng tự động gởi fax khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên. Mobile Banking Mobile Banking là hệ thống trả lời bằng các tin nhắn tự động về các thông tin, dịch vụ của ngân hàng nơi bạn đăng kí. Ngoài ra cònlà hình thức thanh toán trực tuyến qua mạng điện thoại di động.
Phương thức này được ra đời nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán giao dịch có giá trị nhỏ (micro payment) hoặc những dịch vụ tự động khôngcầnngười phục vụ. Muốn tham gia, khách hàng phải đăng ký để trở 7 thành thành viên chính thức, trong đó quan trọng là cung cấp những thông tin cơ bản như: số điện thoại di động, số tài khoản cá nhân dùng trong thanh toán. Sau đó, khách hàng được nhà cung ứng dịch vụ thông qua mạng này cung cấp một mã số định danh (ID). Mã số này không phải số điện thoại và nó sẽ được chuyển thành mã vạch để dán lên diện thoại di động, giúp cho việc cung cấp thông tin khách hàng khi thanh toán nhanh chóng, chính xác và đơn giản hơn các thiết bị đầu cuối của điểm bán hàng hay cung ứng dịch vụ.
Cùng với mã số định danh, khách hàng còn được cấp một mã số cá nhân (PIN) để khách hàng xác nhận giao dịch thanh toán khi nhà cung cấp dịch vụ thanh toán yêu cầu. Sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết thì khách hàng sẽ là thành viên chính thức và đủ điều kiện để thanh toán qua điện thoại di động. Tuy nhiên, đứng về phía khách hàng thì đây vẫn là một dịch vụ mạo hiểm. Theo báo cáo của Javelin Strategy & Research với tựa đề Các tiêu chuẩn bảo mật cho dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động 2008,47% những người không đăng kí dịch vụ này là vì tính bảo mật.
Mặc dù không có các vụ tấn công điện thoại di động nào trên diện rộng nhưng 73% khách hàng losợ rằng cáctin tặccó thể truy cập từ xa vào điện thoạidi động của họ cùng như cácmối lo ngại các số liệu Mobile Banking nhạy cảm của họ có thể bị đánh cắp bằng tín hiệu không dây, mặc dù việcthông tin gửi đi được mật mã hóa và hơn một nửa lo lắng về việc điều gì sẽ xảy ra nếu điện thoại của họ bị đánh cắp. Call Center Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào vẫn gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được cung cấp mọi thông tin chung và cá nhân. Khác với Phone Banking chỉ cung cấp các loại thông tin được lập trình sẵn, Call Center có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng. Nhược điểm của Call Center là phải có người trực 24/24 giờ.
Tiền điện tử (Digital Cash) 8 Tiền điện tử (e-money hay còn được gọi là digital cash) là một hệ thống cho phép người sử dụng có thể thanh toán khi mua hàng hoặc sử dụng các dịch vụ nhờ truyền đi các con số từ máy tính này tới máy tínhkhác. Tiền điện tử là tiền đã được số hóa, tức là tiền ở dạng những bit số. Tiền điện tử chỉ được sử dụng trong môi trường điện tử phục vụ cho những thanh toán điện tử thông qua hệ thống thông tin bao gồm hệ thống mạng máy tính, internet và được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của tổ chức phát hành (bên thứ 3) và được biểu hiện dưới dạng bút tệ trên tài khoản mà khách hàng (người mua) mở tại tổ chức phát hành. Tiền điện tử là phương tiện của thanh toán điện tử được bảo mật bằng chữ ký điện tử, và cùng như tiền giấy nó có chức năng là phương tiện trao đổi và tích lũy giá trị.
Nếu như giá trị của tiền giấy được đảm bảo bởi chính phủ phát hành thì đối với tiền điện tử, giá trị của nó được tổ chức phát hành đảm bảo bằng việc cam kết sẽ chuyển đổi tiền điện tử sang tiền giấy theo yêu cầu của người sở hữu.