CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ. Khái niệm về tín dụng NHTM 1.1 Khái niệm và bản chất về NHTM Khái niệm về NHTM NHTM là NH giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân… bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh tóan và cung cấp các dịch vụ NH cho các đối tượng nói trên. NHTM là loại NH có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế. Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế, xã hội đã chứng minh rằng: ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế.
Theo Luật Các TCTD Việt Nam số 02/1997/QH10, sửa đổi bổ sung năm 2004 giải thích: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Theo Luật Các TCTD Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 thì giải thích: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Bản chất của NHTM LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 NHTM là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế : NHTM hoạt động trong môi trường kinh doanh tế, có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước như các đơn vị kinh tế khác. Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh, các NHTM phải có vốn ( Vốn được cấp nếu NH công, được cổ đông góp vốn nếu là NH cổ phần), phải tự chủ về tài chính; đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của NHTM không nằm ngoài xu hướng đó. Tuy nhiên, việc tìm kiếm lợi nhuận là phải chính đáng trên cơ sở chấp hành luật pháp của Nhà nước.
Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH. Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội và mặt khác lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực “nhạy cảm” nó đòi hỏi một sự thận trọng và khéo léo trong điều hành hoạt động NH để tránh những thiệt hại cho xã hội. Tóm lại, NHTM là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là loại hình định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.2 Khái niệm về tín dụng và cho vay: Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ.
Khi một chủ thể kinh tế cần một lượng hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có tiền hoặc số tiền hiện có chưa đủ họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng nhu cầu. Có hai cách vay mượn: vay chính loại hàng hóa đang có nhu cầu hoặc vay tiền để mua loại hàng hóa đó. Quan hệ vay mượn như vậy gọi là quan hệ tín dụng. Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai.
Có thể định nghĩa tín dụng như sau: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Hay Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Một quan hệ tín dụng phải thỏa mãn những đặc trưng sau: Thứ nhất: là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời. Đối tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hóa dưới hình thức kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa.
Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Nó là kết quả của sự thỏa thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó. Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên và dẫn đến nguy cơ phá hủy quan hệ tín dụng. Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó.
Thứ hai: tính hoàn trả. Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm gốc và lãi vay. Phần lãi phải bảo đảm cho luợng giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị ban đầu. Sự chênh lệch này là giá trả cho sự hy sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó.
Thứ ba: quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng. Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn. Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay.
Sự gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là điều kiện để hình thành quan hệ tín dụng. Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản bảo đảm hoặc do sự bảo lãnh của người đi vay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tín dụng ngân hàng: là quan hệ vay vốn giữa NH với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó NH giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Tín dụng NH được thực hiện dưới hình thức tiền tệ (hiện kim).
Cấp tín dụng: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cho vay: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Chức năng và vai trò của tín dụng ngân hàng 1.1 Chức năng của tín dụng Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội Thông qua hoạt động tín dụng, nguồn vốn xã hội sẽ được di chuyển từ chủ thể đang thừa vốn sang chủ thể thiếu vốn. Nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội được sử dụng vào các hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh sinh lợi cao hơn, tạo cơ sở vật chất và việc làm cho xã hội.
Tín dụng cũng đem lại lợi ích cho cả chủ thể thừa vốn do thu được lãi cho vay và lợi ích của chủ thể thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Chức năng thanh khoản Nhìn một cách tổng quát ta thấy rằng khi một khoản tín dụng được cấp, có nghĩa là người đi vay đang thiếu thanh khoản để chi trả cho một khoản hàng hóa, dịch vụ nào đó mà họ muốn sử dụng, hay sử dụng rồi mà chưa thanh toán. Khi một khoản thặng dư tài chính chưa đuợc sử dụng, nó nằm trong vị thế là tiền cất trữ, và khi mà nó đưa ra để cho vay thì nó trở thành phương tiện lưu thông hay phương tiện thanh toán của nền kinh tế. Khi khoản thu nhập chưa sử dụng, thì khoản thu nhập đó nằm ở dạng một phương tiện thanh toán tiềm tàng và gần như nó đang ở vị thế của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 phương tiện cất trữ.
Chừng nào các TCTD hay chủ sở hữu của khoản tiền đó cấp cho một chủ thể khác để sử dụng thì thực sự khoản tiền đó sẽ đi vào lưu thông. Chức năng tạo tiền Tín dụng không những tạo ra thanh khoản mà nó còn làm cho số lượng phương tiện lưu thông và thanh toán trong nền kinh tế tăng lên. Khi một NH cấp một khoản tín dụng thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc nó tạo ra một khoản tiền cung ứng thêm trong nền kinh tế. Thông thường các chủ thể kinh tế gửi vào NH số tiền mà mình đang cần để làm phương tiện thanh toán để sử dụng các dịch vụ thanh toán của NH như séc, ủy nhiệm chi,.
nhưng khi NH dựa trên cơ sở số dư tiền gửi này để cấp thêm một khoản tín dụng thì lập tức phương tiện thanh toán sẽ tăng lên một lượng tương ứng.2 Vai trò của tín dụng Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội Thứ nhất: Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội.