đặt vấn đề đất đai vào hiến pháp của Nhà nước mình nhằm quản lý và sử dụng đất đai sao cho hiệu quả nhất. Đây cũng là mối quan tâm bức thiết hàng đầu của nước ta. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý. Một trong những công cụ quản lý hết sức quan trọng của công tác quản lý đất đai của nhà nước là đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Những năm gần đây, Việt Nam đang trên đà đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, cùng với xu thế phát triển nền kinh tế thị trường của các khu vực và toàn cầu hiện nay, từ đó nhiều lĩnh vực được tiến hành xây dựng, đổi mới như kinh tế, văn hóa, xã hội… làm cho tình hình sử dụng đất đai rất phức tạp, nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng, đất đai trở nên khan hiếm và ngày càng có giá trị hơn. Bên cạnh đó, văn hóa là một “nguồn lực mềm” làm động lực và đòn bẩy thúc đẩy kinh tế phát triển và làm “hài hòa hóa” các mối quan hệ xã hội và “lành mạnh hóa” môi trường xã hội. Một trong những nội dung quan trọng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) thông qua tại Đại hội XI là Đảng ta đã nêu lên định hướng về văn hóa với nội hàm toàn diện, sâu sắc: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn n 2 hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Có thể thấy nhà văn hóa là nơi tổ chức hội họp, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí, phổ biến khoa học kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm sản xuất và học tập, biểu dương người tốt, việc tốt ở cơ sở.
Việc đăng ký đất đai, cấp GCNQSD đất của huyện Phổ Yên trong thời gian qua đã có nhiều thành tựu đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề khó khăn, thách thức nảy sinh cần được giải quyết và quản lý sao cho đúng đắn, hiệu quả và triệt để nhất trong công tác đăng ký – cấp GCNQSD đất đối với nhà văn hóa trên địa bàn huyện. Nhận thức được thực tiễn và tầm quan trọng của công tác điều tra đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất, với vai trò là một sinh viên đang thực tập tốt nghiệp, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Quản Lý Tài Nguyên. Với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS-TS.Nguyễn Khắc Thái Sơn, cùng với sự chấp nhận của phòng TN&MT huyện phổ yên, em tiến hành xây dựng và triển khai nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với nhà văn hóa trên địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Giai đoạn 2010 – 2013”.2 Mục tiêu của đề tài * Mục tiêu tổng quát Tìm hiểu tình hình và đánh giá thực trạng cấp GCNQSD đất đối với nhà văn hóa trên địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 – 2013. Xác định những thuận lợi khó khăn, từ đó đề xuất để khắc phục,góp phần quản lý chặt chẽ đất đai trên địa bàn huyện.
* Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Phổ Yên. n 3 - Đánh giá được tình hình cấp GCNQSD đất trên địa bàn huyện Phổ Yên. - Đánh giá thực trạng kết quả công tác cấp GCNQSD đất đối với nhà văn hóa trên địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 – 2013. - Đề xuất các giải pháp để khắc phục những khó khăn, góp phần quản lý chặt chẽ đất đai và thực hiện nhanh chóng công tác cấp GCNQSD đất đối với nhà văn hóa trên địa bàn huyện.3 Yêu cầu của đề tài Nắm vững những quy định trong luật đất đai 2003 và các văn bản dưới luật về công tác đăng ký đất đai và cấp GCNQSD đất.
Thu thập đầy đủ, khách quan tài liệu và số liệu về việc giao đất và cấp GCNQSD đất đối với nhà văn hóa trên địa bàn huyện. Có đầu óc tư duy, sáng tạo. Các giải pháp đưa ra phải mang tính khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đất xây dựng nhà văn hóa trên địa bàn huyện nói riêng và về mặt quản lý nhà nước đối với đất đai nói chung.4 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Đối với việc học tập: việc hoàn thành đề tài sẽ là cơ hội cho sinh viên củng cố kiến thức đã học trong nhà trường, đồng thời là cơ hội cho sinh viên tiếp cận với thực tế nghề nghiệp trong tương lai.2 Với thực tiễn xã hội: đề xuất những giải pháp thích hợp với thực tế địa phương góp phần hoàn thành công tác cấp GCNQSD đất và quản lý đất xây dựng nhà văn hóa được tốt hơn trong thời gian tới. Đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của địa phương được cấp đất xây dựng nhà văn hóa về các quyền sử dụng đất.
Tạo tiền đề để huyện thực hiện tốt các nội dung về quản lý đất đai, đặc biệt là đất xây dựng nhà văn hóa. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Thời kỳ 1975-1988 Từ sau cách mạng tháng tám thành công, đặc biệt là sau cải cách ruộng đất 1975, chính quyền cách mạng tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân nghèo. Đầu nhưng năm 1960 hưởng ứng phong trào hợp tác hóa sản xuất do Đảng, chính phủ phát động, đại bộ phận nông dân với nhiệt huyết cách mạng, luôn tin tưởng vào Đảng đã góp ruộng đất vào hợp tác xã. Do vậy hiện trạng ruộng đất có nhiều thay đổi.
Trong những năm 1980 hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, tổ chức ngành địa chính các cấp thường xuyên không ổn định và đặc biệt nhac nước vẫn không có một văn bản pháp lý nào làm cơ sở nên công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa được triển khai. Từ sau năm 1980 công tác đăng ký đất đai mới bắt đầu được Nhà nước quan tâm và tổ chức thực hiện theo quyết định 201/QĐ-CP ngày 1 tháng 7 năm 1980 của hội đồng Chính phủ và chỉ thị 299-TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 Thủ tướng Chính Phủ. Thực hiện yêu cầu này, Tổng cục quản lý thống kê ruộng đấy theo Quyết định 56/ĐKTK ngày 5 tháng 11 năm 1991 đã phải giảm bớt hoặc cắt bỏ để giảm bớt yêu cầu trước mắt, nắm nhanh diện tích của cả nước (chủ yếu là ruộng đất nông nghiệp của tập thể, quốc doanh và quỹ đất chưa sử dụng) phục vụ cho kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước. Việc triển khai Chỉ thị 299-TTg kéo dài 1981 và đến cuối năm 1988 vẫn chưa thực hiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Từ khi có luật đất đai 1988 thì công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trở thành bắt buộc. (Nguồn: http://www.2 Thời kỳ 1988 – 1993 Luật đất đai năm 1988 là bước ngoặt lịch sử về cách mạng đất đai ở nước ta, giải quyết được mối quan hệ về đất đai và đưa công tác này đi vào kỷ cương chặt chẽ Điều 1: luật đất đai 1988 khẳng định: “ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý” và quy định trong khoản 3 Điều 18 “sau khi đăng ký người sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ”. Để thực hiện quyền quản lý nhà nước về đất đai và hướng dẫn cụ thể hơn về cấp GCNQSDĐ được quy định trong luật đất đai năm 1988. Tổng cục Quản lý ruộng đất đã có quyết định 201 QĐ/ĐKTK ngày 14 tháng 7 năm 1989 ban hành về việc cấp GCNQSDĐ lần đầu tiên.
Giấy CNQSDĐ được định nghĩa trong văn bản pháp luật “là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa nhà nước và người sử dụng”. Thông qua công tác cấp giấy CNQSDĐ nhà nước từng bước nắm chắc được việc sử dụng đất đảm bảo được quản lý và sử dụng đất đúng quy định của pháp luật và sử dụng đất hợp lý, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế tại địa phương. Tuy nhiên việc triển khai đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính ở giai đoạn này cũng chỉ mang tính chất làm điểm, rút kinh nghiệm, chưa triển khai đồng loạt, rất chậm.3 Thời kỳ sau luật đất đai năm 1993 – 2003 Ngày 24 tháng 7 năm 1993 Luật đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 1993. Luật đất đai năm 1993 ra đời với những thay đổi lớn: ruộng đất được ổn định lâu dài cho các hộ gia đình – cá nhân đất đai có giá trị, người sử dụng đất được hưởng các quyền:chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ… Với những yêu cầu nhiệm vụ hoàn thành giấy chứng nhận ngày càng trở nên cấp bách công tác cấp GCN bắt đầu triển khai mạnh trên cả nước, từ năm 1997 đến nay, với mục tiêu hoàn thành cấp GCNQSDĐ vào năm 2000 cho khu vực n 6 nông thôn, năm 2001 cho khu vực đô thị theo Chỉ thị 10/1998/CT-Ttg và Chỉ thị 18/1999/CT-Ttg của Thủ tướng Chính phủ.
Với việc cấp GCN như thế này đã gặp nhiều khó khăn khi chủ sử dụng đất thực hiện việc thế chấp, chuyển đổi, chuyển nhượng… Trong đó có một số thửa đất có trong giấy CNQSDĐ; mặt khác gây khó khăn và nhầm lẫn cho công tác cập nhật biến động. Mức độ nhầm lẫn sẽ tăng nhanh khi mật độ chuyển dịch đất tăng cao. Riêng đất ở đô thị được cấp GCN quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo mẫu do bộ xây dựng ban hành tại Nghị định 60/CP. Đây là yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện thống nhất các thủ tục đăng ký đất đai trên.4 Từ luật đất đai năm 2003 đến nay Ngày 26 tháng 11 năm 2003, tại kỳ họp thứ 4, khóa XI, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật đất đai, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004.
Luật này thay thế cho luật đất đai được ban hành năm 1993. Thể hiện quan điểm đổi mới về công tác quản lý, đặc biệt cải cách thủ tục hành chính về đất đai.