Chương 1: Cơ sở khoa học ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong việc đánh giá biến động đất mặt nước sông, hồ. Chương 2: Các phương pháp thành lập bản đồ biến động đất mặt nước sông, hồ bằng công nghệ viễn thám và GIS. Quy trình thành lập bản đồ biến động đất mặt nước sông, hồ. Chương 3: Thành lập bản đồ biến động, phân tích, đánh giá biến động đất mặt nước sông, hồ giai đoạn 1995-2003-2011 khu vực huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất mặt nước sông, hồ huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Page 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ GIS TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG ĐẤT MẶT NƢỚC SÔNG HỒ 1. Tổng quan về đất mặt nƣớc sông, hồ 1. Khái niệm về đất mặt nước sông, hồ Theo Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất thì Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng là đất có mặt nước mà không sử dụng chuyên vào các mục đích nuôi trồng thuỷ sản, thuỷ điện, thuỷ lợi. Trường hợp đất sông suối và mặt nước chuyên dùng có kết hợp sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản, kinh doanh - dịch vụ du lịch thì ngoài việc thống kê vào mục đích chuyên dùng còn phải thống kê theo mục đích phụ là đất nuôi trồng thủy sản và đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.
Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng bao gồm: đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và đất có mặt nước chuyên dùng. Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối là đất có mặt nước của các đối tượng thuỷ văn dạng sông không thể tạo ranh giới khép kín để hình thành thửa đất, không sử dụng chuyên cho mục đích nuôi trồng thuỷ sản, thuỷ điện, thuỷ lợi. Đất có mặt nước chuyên dùng là đất có mặt nước của các đối tượng thuỷ văn dạng ao, hồ, đầm có thể tạo ranh giới khép kín để hình thành thửa đất, không sử dụng chuyên vào mục đích chuyên nuôi trồng thuỷ sản, thuỷ điện, thuỷ lợi. Trường hợp sông cắt ngang các hồ chứa nước thì cần xác định phần diện tích sông theo dòng chảy liên tục; diện tích hồ sẽ không gồm phần đã tính vào diện tích sông.
Như vậy, đất mặt nước sông, hồ có thể hiểu là đất có mặt nước.ớc sông bao gồm: đất mặt nước sông, ngòi, kênh, rạch, suối, là đất có mặt nước của các đối tượng thuỷ văn dạng sông. Đất mặt nước hồ là đất có mặt nước của các đối tượng thuỷ văn dạng ao, hồ, đầm có thể tạo ranh giới khép kín để hình thành thửa đất. Hồ là một vùng nước được bao quanh bởi đất liền, thông thường là nước ngọt. Page 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các nhân tố tạo thành đất mặt nước sông, hồ Bề mặt Trái Đất chính là trường hoạt động của các yếu tố địa lý. Các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chúng thường xuyên thay đổi và làm cho địa lý mặt đất cũng biến đổi không ngừng: có sinh ra, phát triển và bị mất đi, nghĩa là biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Ở mỗi thời điểm và không gian cụ thể, địa lý mặt đất có một trạng thái nhất định phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các nhân tố lúc bấy giờ.
Trong nghiên cứu biến đổi các yếu tố địa lý, chúng được xem xét dưới góc độ chúng vừa là đối tượng bị tác động, vừa là nhân tố tham gia vào quá trình làm biến đổi. Quá trình biến đổi đất mặt nước sông, hồ, có mối liên hệ mật thiết với các đặc trưng về đặc điểm địa chất, thành phần thạch học, thổ nhưỡng, điều kiện khí hậu, lớp phủ thực vật, hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, dân cư,. Trên cơ sở nghiên cứu nguyên nhân biến đổi đất mặt nước sông, hồ, xây dựng các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững tài nguyên đất. Đặc điểm địa chất, địa mạo: 3/4 diện tích tự nhiên Việt Nam là đồi núi, có hướng nghiêng chung từ Tây sang Đông.
Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ là những vùng trũng, tạo nên hai vùng đất mặt nước sông, hồ tiêu biểu cho địa chất địa mạo vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long. Đặc điểm khí hậu: Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm khá cao (hơn 20oC/năm), độ ẩm tương đối lớn (hơn 80%/năm), lượng mưa dồi dào (1500mm/năm). Sự khác nhau về chế độ khí hậu giữa các vùng, đặc biệt là chế độ nhiệt - ẩm có ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của từng vùng như thời gian ngập nước, độ sâu ngập nước, chế độ nhiệt của nước, dẫn đến sự khác nhau giữa các loại hình đất mặt nước sông, hồ. Đặc điểm thủy văn: Hệ thống dòng chảy với một mạng lưới tiêu nước ra biển khá dày.
Tổng số các con sông lớn nhỏ ở Việt Nam lên tới 2500, trong đó những con sông dài trên 10 km là 2360 sông (Phan Nguyên Hồng, 1996). Các dòng sông chảy ra biển đã tạo thành hệ thống cửa sông là một trong những loại hình đất mặt nước sông, hồ quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, cả nước có trên 3500 hồ chứa nước nhỏ và 650 hồ chứa nước vừa và lớn, các hồ chứa nước lớn như hồ Thác Bà có diện tích mặt nước 23400 ha, hồ Hòa Bình 218 km2, hồ Dầu Tiếng 35000 ha, hồ Trị An 27000 ha (Nguyễn Viết Phổ, Vũ Văn Tuấn, 2003). Thổ nhưỡng: Việt Nam có 15 nhóm đất, trong đó có 7 nhóm đất liên quan đến các đặc trưng của các vùng đất mặt nước sông, hồ, đó là đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất glây, đất than bùn, đất xám và đất cát.
Do các đặc điểm khác nhau về địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng đã hình thành các đặc trưng về thực vật của các vùng đất mặt nước sông, hồ với hai dạng điển hình là thực vật vùng đất mặt nước sông, hồ lợ và thực vật vùng đất mặt nước sông, hồ ngọt. Các yếu tố ảnh hưởng tới đất mặt nước sông, hồ Các yếu tố ảnh hưởng tới đất mặt nước sông, hồ phần lớn là các yếu tố kinh tế - xã hội: Tăng trưởng dân số và quá trình đô thị hóa: Khi dân số và mức sống tăng, nhu cầu Page 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lương thực sẽ ngày càng tăng lên, đòi hỏi các sản phẩm cây trồng tăng lên, kéo theo đó là nhu cầu về nước và đất ở tăng. Nhu cầu nước cho các ngành không giống nhau: Trên thế giới, nhu cầu về nước cho các mục đích sử dụng chiếm tỉ lệ khác nhau như: cho sản xuất nông nghiệp chiếm 80%, sinh hoạt chiếm 15% và nước dùng cho công nghiệp chiếm 5%. Do sự bành trướng và ưu tiên nước cho các ngành sản xuất phi nông nghiệp đã làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng cho mục đích nông nghiệp.
Sự ô nhiễm nước: Ô nhiễm nguồn nước ngọt là một trong những nguyên nhân gây xung đột trong khai thác nguồn nước trên thế giới. Do đẩy nhanh thâm canh trong nông nghiệp, việc sử dụng phân bón hóa học ngày càng tăng lên, đó là nguyên nhân làm cho đất và nguồn nước bị ô nhiễm bởi nitrat và phốtphat. Chúng gây nên sự mất cân bằng chức năng của các hệ sinh thái thủy vực dẫn tới sự nghèo nàn đáng kể của các hệ động thực vật dưới nước. Vai trò của đất mặt nước sông, hồ trong đời sống kinh tế - xã hội Sông, hồ là yếu tố cơ bản của cảnh quan địa lý và ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành khí hậu, địa mạo, thực vật, thổ nhưỡng, là yếu tố giao thông rất tiện lợi và kinh tế.
Là nơi có thể xây dựng các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, nuôi trồng thuỷ sản phục vụ phát triển kinh tế. Sông, hồ rất quan trong không chỉ đối với con người mà đối với cuộc sống khắp mọi nơi. Sông, hồ không chỉ là một nơi rộng lớn cho con người và những con vật của họ hoạt động, con người còn sử dụng nước sông, hồ cho nhu cầu nước uống và nước tưới, sản xuất ra điện, làm sạch chất thải (xử lý nước thải), giao thông thuỷ và kiếm thức ăn. Sông, hồ còn là môi trường sống chính cho tất cả các loài động và thực vật nước.
Sông, hồ bổ sung cho tầng ngậm nước ngầm dưới mặt đất qua lòng sông, hồ và tất nhiên cả đại dương. Nước trên mặt đất thực sự giúp duy trì cuộc sống, điều hoà khí hậu. Có thể nói, tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường.
Đất mặt nước sông, hồ là những hệ sinh thái có năng suất cao, cung cấp cho con người nhiều loại nhiên liệu, thức ăn: Cung cấp nguồn thực phẩm trên toàn cầu. Lưu trữ lượng nước ngọt trong năm, duy trì độ ẩm của đất; Góp phần điều tiết khí hậu, duy trì độ ẩm không khí và hạn chế quá trình bốc hơi, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Nguồn lợi thuỷ hải sản: Các loài sinh vật nước như: cua, cá, tôm; cung cấp dinh dưỡng, tài nguyên thiên nhiên cho con người Trong số 20.000 loài cá trên thế giới, hơn 40% sống trong nước ngọt. Các cơ hội giải trí và du lịch: Các vùng đất mặt nước sông, hồ còn có các đặc tính đặc biệt về di sản văn hoá của loài người.
Các hệ sinh thái đất mặt nước sông, hồ có nhiều thuận lợi cho du lịch sinh thái, xây dựng các khu dự trữ sinh quyển, các vườn quốc gia,. nhiều vùng cảnh quan đẹp, …thu hút nhiều khách du lịch tham quan, giải trí. Giao thông thủy: Hầu hết các kênh rạch, sông, các vùng hồ chứa nước lớn, vận chuyển thủy đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cũng như phát triển kinh tế của các cộng đồng địa phương. Page 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái niệm về biến động đất mặt nước sông, hồ 1. Khái niệm chung về biến động Cụm từ biến động được hiểu là biến đổi, thay đổi, thay thế hiện trạng này bằng một trạng thái khác liên tục của sự vật, hiện tượng tồn tại trong môi trường tự nhiên cũng như mỗi trường xã hội.