Chương 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan khu vực nghiên cứu 1. Vị trí địa lý 106 ta 107 108 J , z v7 A ` : = Đồng Nai \ Binh Thuan Long An iP as \ \ : 9 Bà Rịa - Vũng Tàu S$ TiénGiang - ‹ a 0 125 25 50 Km eens Bến Tre ~— VA i Tem = = 13km A 107 108 106 107 107 Legend ———— Ranh giới tinh Ranh giới huyện 1:903,511 1cm =9km 3eographic Coordinate System: GCS WGS 1984 Datum: D WGS 1984 Spheroid: WGS 1984 Hình 1. So đồ vị trí khu vực nghiên cứu Thành phố Hồ Chi Minh nằm trải dai theo hướng Đông Nam tới Tây Bắc, có tọa độ địa lý từ 102213” đến 11922°17” vĩ độ Bắc và 106001°25” đến 10700110” kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Tổng diện tích tự nhiên (DTTN) Thành phố Hồ Chí Minh là 209.554,97 ha, chiếm 8,90% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ và 0,64% diện tích tự nhiên toàn quốc. Trong số 24 quận, huyện của Thành phố thì huyện Cần Giờ có diện tích tự nhiên lớn nhất 70.421,58ha, chiếm 33,61%; quận 4 có diện tích tự nhiên nhỏ nhất 417,08ha, chiếm 0,20%. Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên 2.095 km?, là trung tâm kinh tế, đào tạo, khoa học kỹ thuật, tài chinh,.
lớn nhất cả nước, tập trung nguồn nhân lực chất lượng cao. Thành phố có 24 đơn vi hành chánh trực thuộc, bao gồm 19 quận và 5 huyện; trong đó: khu vực 19 quận với tổng diện tích tự nhiên: 494 km” (chi chiếm 24% diện tích tự nhiên); khu vực 5 huyện: 1. Địa hình Tp. Hồ Chí Minh nằm ở đồng bằng hạ lưu sông Đồng Nai — Sai Gòn, giữa khu vực chuyên tiếp từ cự Nam Trung Bộ sang đồng bằng sông Cửu Long.
Về mặt địa hình, thành phố có 2 đặc điểm chủ yếu sau: - Đây là địa hình đồng bằng thấp (nơi cao nhất không vượt quá 40 m, nhiều chỗ còn thấp trũng), bề mặt tương đối bằng phang và bị chia cắt bởi mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc. - Địa hình có xu hướng thấp dần từ Tây bắc xuống Đông nam, nhưng độ dốc nhỏ. Do nằm vị trí chuyền tiếp giữa vùng đôi và đồng bằng nên địa hình của thành phố có nhiều kiểu với nguồn gốc hình thành khác nhau. Trước hết là địa hình đồi bốc mòn, được phân bố nhiều nhất ở khu vực Long Bình quận Thủ Đức.
Đặc trưng cho đạng địa hình này là các đồi hình bát úp, đỉnh tròn, sườn thoải với độ cao từ 20 — 25 m, bề mặt bị phong hóa mạnh, tạo nên lớp vỏ phong hóa tương đối dày và dé bị bóc mòn, rửa trôi. Tiếp theo là địa hình đồng bằng thềm với 3 bậc khác nhau. Thém bậc 1 phân bố ở Bình Chánh, Đông Hóc Môn, Nam Củ Chi, Thủ Đức và toàn bộ huyện Nhà Bè với độ cao trung bình 1,0 m được cau tạo bởi trầm tích hỗn hợp sông và biển. Thêm bậc 2 phân bé chủ yếu ở phái tây nội thành và chạy dọc theo thung lũng sông thuộc huyện Củ Chi, độ cao trung bình tăng dan từ nội thành (3,0 — 3,5 m) ra đến Củ Chi (6,0 — 8,0 m).
Vật liệu chính tạo nên dang địa hình này là trầm tích sét bột có nguồn gốc hỗn hợp sông — biển. Thém bậc 3 có độ cao khác nhau tùy từng khu vực, từ 5 — 10 m ở Hóc Môn cho đến 10 — 25 m ở Củ Chi, một phần Thủ Đức và được tao nên bởi trầm tích cuộn sỏi, cát sét, cát bột. Ngoài ra, ở Tp. Hồ Chí Minh còn có dạng địa hình đồng bằng đầm lầy kéo dài từ Thái Mỹ đến nông trường Lê Minh Xuân; địa hình bãi bồi đầm lầy sú vẹt phần lớn tập trung ở huyện Cần Giờ với độ cao 0,5 — 1,0 m và địa hình giồng cát ven biển.
Tuy một số nơi có địa hình đất cao, nhưng nhìn chung địa hình của Tp. Hồ Chí Minh vẫn là đồng bằng thấp. Mặc dù có một phần tương đối lớn lãnh thổ là vùng tring, nhưng do tác động của chế độ bán nhật triều nên khả năng thoát nước nhanh, ít gây ngập úng kéo dài, thuận lợi cho việc xây dựng các công trình dân dụng và phát triển các ngành kinh tế. Hiện trạng sử dụng đất Phân theo diện tích tự nhiên (DTTN): Diện tích đất đang khai thác, sử dụng: 208.919,49 ha, chiếm 99,70% DTTN, gồm: - Đất nông nghiệp: 118.051,90 ha, chiếm 56,34% DTTN.
- Đất phi nông nghiệp: 90.867,57 ha, chiếm 43,36% DTTN. + Đất chưa sử dụng: 635,50 ha, chỉ chiếm 0,30% DTTN. + Dat đô thị - đất nông thôn: - Đất nông thôn: là diện tích đất của 58 xã tại 5 huyện, với diện tích là 155. - Đất đô thị: là diện tích của 259 phường thuộc 19 quận và 5 thị trấn thuộc 5 huyện với diện tích là 54.
Phân theo đơn vị hành chính: Tổng diện tích 19 quận: 49.382,56 ha, chiếm 23,56% DTTN; Trong đó khu nội thành cũ gồm 13 quận có diện tích là 14.199,96 ha và khu nội thành mới phát triển gồm 06 quận có diện tích là 35. Tổng điện tích 5 huyện: 160.172,41 ha, chiếm 76,44% DTTN. Đến năm 2020, cơ cấu sử dụng đất của Tp. Hồ Chí Minh có những thay đổi nhất định.
Dat nông nghiệp giảm dan, nhất là dat trồng cây hàng năm. Khu vực nội thành hầu như không còn đất nông nghiệp. Ngược lại, đất sử dụng cho các mục đích khác (xây dựng, đất ở, đất lâm nghiệp, giao thông) tăng nhanh. Riêng đất dành cho xây dung tăng gan 1,5 vạn ha nhằm phục vụ cho việc phát triển các khu công nghiệp tập trung, các khu hành chính, văn hóa, giáo dục, thé duc thé thao va các nhu cầu khác của thành phó.
Theo bản đồ hiện trạng sử dụng đất Tp. HCM, hiện nay khu vực trung tâm hầu hết là đất phi nông nghiệp, nên ít thay đổi trong thời kỳ quy hoạch đến 2020. Những khu vực thay đổi nhiều tập trung ở vùng ven và các huyện ngoại thành. Theo kết qua nghiên cứu của dự án megacity DH Công nghệ Đức, đề xuất 11 vùng cần tập trung chuyên đổi mục đích sử dụng đất và các khuyến nghị trong quy hoạch sử dụng đất (Hình 1.0m HM < osm Non built up above 1.5m AMSL Other built up 1 Buitt Up Hình 1.
Những khu vực tập trung chuyền đổi mục dich sử dung đất và khuyến nghị trong quy hoạch sử dụng đất. Khí hậu TP Hồ Chí Minh nam trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Cũng như các tỉnh ở Nam Bộ, đặc điểm chung của khí hậu — thời tiết Tp. Hồ Chí Minh là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa — khô rõ rang làm tác động chi phối môi trường cảnh quan sâu sắc.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ thang 12 đến tháng 4 năm sau. Theo tai liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Hòa, qua các yêu tố khí tượng chủ yếu; cho thấy những đặc trưng khí hậu Tp. Hồ Chí Minh (Bảng 2.4 - Niên giám thống kê năm 2019 — Cục thống kê). Nhiệt độ không khí trung bình (trạm Tân Sơn Hòa) (đơn vị: °C) Tháng 2015 2016 2017 2018 2019 1 26,4 28,7 28,1 27,5 28,3 2 26,8 28,3 27,9 27,4 28,6 3 29,0 28,8 28,9 29,0 29,6 4 29,9 30,8 29,8 30,0 30,8 5 30,7 30,9 29,3 29,6 30,0 6 29.2 28,9 29,1 28,7 29,4 7 28,9 28,7 28,4 28,6 29,0 8 29,0 28,7 28,5 28,4 28,5 9 28,6 28,4 28,9 28,1 28,2 10 28,7 57 28,0 28,6 29,0 11 29,1 28,7 28,0 28,6 28,2 12 28,6 27,4 27,4 28,7 27,4 Binh quân năm 28,7 28,8 28,5 28,6 28,9 Bảng 1.
Số giờ nắng trung bình (trạm Tân Sơn Hòa) (đơn vị: giờ) Tháng 2015 2016 2017 2018 2019 1 184. Luong mua trong nam (tram Tan Son Hoa) (don vi: mm) Thang 2015 2016 2017 2018 2019 1 1,6 29,3 61,2 113,9 1,9 2 - - 56,7 0,2 0,0 3 10,2 - 20,2 31,6 0,1 4 104.8 181,2 223;3 454,9 131,8 12 4,6 128,6 75,6 3/1 21,6 Binh quan nam 1. Độ âm không khí trung bình (trạm Tân Sơn Hòa) (đơn vị: %) Tháng 2015 2016 2017 2018 2019 1 70,3 66,0 70,0 74,4 62,7 2 67,6 62,0 67,8 68,0 64,2 3 66,9 67,0 66,5 65,7 67,8 4 68,9 68,0 69,7 68,0 68,7 5 69,8 70,0 76,7 74,9 73,8 6 74,4 78,0 15,7 76,6 74,5 7 76,3 76,0 78,1 77,1 72,8 8 fal 79,0 79,3 76,8 76,3 9 76,9 77,0 78,0 78,4 739 10 75,9 83,0 78,8 74,9 721 11 72,1 76,0 76,9 71,6 70,9 12, 67,3 78,0 70,2 70,8 66,2 Binh quan nam 71,8 1353 74,0 1330 70,5 1. Thủy van Nam ở hạ lưu sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, mạng lưới sông ngòi, kênh rach ở thành phố khá dày đặc với mật độ 3,38 km/km?.
Thành phố nằm giữa hai con sông lớn là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông, nhưng lại chịu ảnh hưởng nhiều của hệ thống sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai dài 850 km, bắt nguồn từ vùng Lang Biang do hai nhánh Da Dung và Da Nhim hợp thành. Sông Đồng Nai còn được tiếp nước từ một phụ lưu khác là sông La Nga từ cao nguyên đồ xuống nên có nhiều thác ghénh. Ở đoạn uốn khúc giữa đồng bằng, sông Đồng Nai tiếp nhận thêm nước của sông Bé rồi hội lưu với sông Sài Gòn tại Nhà Bè.
Từ đây, sông chia làm nhiều nhánh (lớn nhất là sông Lòng Tàu) chảy qua vùng rừng Sác rồi đồ ra biển ở vịnh Đồng Tranh và vịnh Ganh Rai. Sông Sài Gòn bat nguồn từ vùng Hớn Quan chảy qua lãnh thé các tinh Tay Ninh, Bình Phước, Bình Dương rồi chảy vào địa phận thành phó. Trên địa bàn Tp. Hồ Chí 10 Minh có nhiều rạch nối với sông Sài Gòn (rạch Láng Tre, rạch Tra, rạch Bến Cát, rạch Thị Nghè, .) và một số kênh đào (kênh Tham Lương, kênh An Hạ, kênh Thái Mỹ, kênh Đông).
Quan trọng hơn cả, trong số này là rạch Bến Nghé. Đây là điểm khởi đầu của các tuyến đường sông, nối Sài Gòn với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1819, một đoạn rạch Bến Nghé được mở rộng và lay tên là An Thông Hà (tức kênh Tàu Hủ). Năm 1905, kênh Tẻ (từ cầu chữ Y ra Tân Thuận) được đào mới, sau đó là kênh Đôi song song với rạch Bến Nghé.
Nhờ hệ thong kénh rach trén, viéc di lai bang đường thủy trong khu vực trở nên thuận lợi hon nhiều. Bên cạnh đó, sông Vàm Cỏ Đông có lưu lượng nước không lớn, được nối thông với sông Vàm Cỏ Tây và Đồng Tháp bởi nhiều sông nhánh và hệ thống các kênh, rạch.