Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu tiềm năng du lịch nông nghiệp to lớn khi khu vực nông thôn chiếm khoảng 70% đến 75% dân số cùng sự đa dạng văn hóa của 54 dân tộc anh em. Tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, du lịch đã khẳng định vị thế mũi nhọn kinh tế khi chỉ trong 6 tháng đầu năm 2016, toàn huyện đã đón 145.890 lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 46.163 lượt và mang lại tổng doanh thu trên 36 tỷ đồng. Tuy nhiên, hoạt động du lịch nông thôn tại đây phần lớn khởi phát từ tự phát, tiềm ẩn nhiều xung đột lợi ích trong chuỗi giá trị và tạo áp lực nặng nề lên cảnh quan thiên nhiên cũng như bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào bản địa.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá thực trạng phát triển du lịch nông thôn dưới lăng kính bền vững, xác định rõ các điểm nghẽn về kinh tế, văn hóa - xã hội và sinh thái môi trường tại địa bàn trọng điểm là bản Lác, xã Chiềng Châu. Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng và định tính nhằm đo lường tính bền vững; phân tích toàn diện thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại xã Chiềng Châu; và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi cho giai đoạn 2016–2020, tầm nhìn 2030.

Phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu tại xã Chiềng Châu – cái nôi du lịch cộng đồng hơn 700 năm tuổi của người Thái tại huyện Mai Châu, sử dụng chuỗi dữ liệu thực nghiệm thu thập từ năm 2011 đến năm 2016. Về mặt thực tiễn, công trình đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp địa phương bảo đảm mức tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người đạt trên 19,5 triệu đồng/năm, đồng thời hỗ trợ duy trì tỷ lệ hộ nghèo ở mức dưới 5,1% và giữ gìn trọn vẹn cảnh quan tự nhiên cùng di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết phát triển bền vững ba trụ cột tiêu chuẩn gồm Kinh tế, Xã hội và Môi trường được khởi xướng bởi Ủy ban Brundtland (1987) và hoàn thiện bởi Mạng lưới Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO). Khung lý thuyết này đòi hỏi hoạt động du lịch phải bảo đảm tính khả thi kinh tế lâu dài, tôn trọng tính chân xác văn hóa của cộng đồng bản địa và duy trì các quá trình sinh thái thiết yếu. Bên cạnh đó, tác giả kế thừa mô hình tiếp cận chuỗi giá trị du lịch nông thôn và các nguyên lý quản lý du lịch miền núi nhằm tối ưu hóa sự chia sẻ lợi ích giữa các bên tham gia.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được làm rõ bao gồm:

  • Du lịch nông thôn: loại hình du lịch diễn ra ở khu vực nông thôn với quy mô kinh doanh nhỏ, gắn liền với di sản văn hóa làng xã và do người dân địa phương tổ chức, quản lý;
  • Du lịch nông nghiệp: hoạt động cho phép du khách tham quan và trực tiếp trải nghiệm các phương thức canh tác truyền thống;
  • Du lịch đón tiếp tại nông hộ: mô hình dịch vụ lưu trú homestay chia sẻ không gian sinh hoạt thường nhật;
  • Sức chứa môi trường sinh thái: ngưỡng giới hạn khai thác du lịch mà tại đó tài nguyên thiên nhiên không bị suy thoái và suy giảm khả năng tự phục hồi.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tại Pháp, du lịch nông nghiệp đã mang lại hơn 50% tổng thu nhập cho các nông hộ tham gia với mạng lưới hơn 300 điểm đến đạt chuẩn. Tại Trung Quốc, chương trình du lịch nông nghiệp chống đói nghèo đã thu hút hơn 300 triệu lượt khách mỗi năm, tạo ra doanh thu hơn 40 tỷ nhân dân tệ (tương đương khoảng 5,13 tỷ USD). Đây là những tiền đề lý luận và thực tiễn vững chắc để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hai kênh chính: dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2012–2015 của UBND huyện Mai Châu và dữ liệu sơ cấp qua hai đợt điều tra thực địa vào tháng 8 năm 2015 và tháng 9 năm 2016.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm:

  • 05 cán bộ lãnh đạo quản lý tại 5 phòng ban cấp huyện (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Dân tộc);
  • 05 doanh nghiệp lữ hành đang khai thác tour tại địa bàn (tiêu biểu như MaiChauTourism, Mai Châu Ecolodge, Sol Bungalow and Travel);
  • 30 hộ gia đình trực tiếp kinh doanh dịch vụ homestay và dệt thổ cẩm tại bản Lác.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp điều tra bảng hỏi bán cấu trúc và phỏng vấn sâu nhân chứng then chốt được áp dụng nhằm thu thập dữ liệu chuyên sâu về cơ cấu kinh tế hộ và hiện trạng biến đổi văn hóa. Luận văn cũng thực hiện 01 buổi thảo luận nhóm tập trung thời lượng 60 phút giữa các bên liên quan. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phân tích định tính liên ngành là nhằm phản ánh chân thực, toàn diện các tác động tương hỗ phức tạp giữa 86% dân số là người Thái với môi trường sinh thái thung lũng khép kín có độ cao từ 200m đến 350m so với mực nước biển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về mặt kinh tế, du lịch nông thôn đã tạo bước chuyển dịch cơ cấu ngoạn mục. Tại xã Chiềng Châu, tỷ trọng thu nhập từ nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm xuống còn 28,8% vào năm 2015, nhường chỗ cho thương mại, dịch vụ, du lịch chiếm 36,2% và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 34,9%. Thu nhập bình quân đầu người toàn xã tăng trưởng vượt bậc từ 9,964 triệu đồng/năm (2012) lên 19,545 triệu đồng/năm (2015), tương đương mức tăng gần 96,2%. Nhiều hộ gia đình làm du lịch homestay đạt doanh thu từ 100 đến 150 triệu đồng/năm, cao gấp 3 đến 5 lần so với canh tác thuần nông.

Thứ hai, về mặt xã hội và văn hóa, hoạt động du lịch góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của xã từ 35% xuống chỉ còn 5,08% vào cuối năm 2015, đưa Chiềng Châu trở thành xã đầu tiên của huyện Mai Châu đạt 19/19 tiêu chí Nông thôn mới. Vị thế của phụ nữ Thái được nâng cao rõ rệt khi hơn 70% lực lượng lao động dệt thổ cẩm và phục vụ ăn uống là nữ giới. Tuy nhiên, kiến trúc truyền thống đang bị biến dạng nghiêm trọng khi có trên 60% nhà sàn bị cải tạo, ngăn chia phòng nhỏ hiện đại hoặc xây dựng xen lẫn nhà mái bằng bê tông; ngôn ngữ dân tộc Thái chủ yếu tồn tại ở dạng khẩu ngữ và trang phục truyền thống chỉ còn được mặc trong các dịp biểu diễn văn nghệ.

Thứ ba, về mặt sinh thái môi trường, 100% hộ dân đã được sử dụng điện lưới quốc gia và nước hợp vệ sinh. Dẫu vậy, công tác thu gom và xử lý rác thải vẫn chưa triệt để khi bãi tập kết rác thải của xã nằm ngay cạnh dòng suối Mùn, nhiều hộ dân vẫn tự đốt rác tại vườn nhà. Hoạt động khai thác lan rừng và lâm sản phục vụ du khách cùng các hiện tượng thời tiết cực đoan như sạt lở Quốc lộ 6 vào tháng 8 năm 2016 đang đe dọa trực tiếp đến cảnh quan sinh thái thung lũng.

Thảo luận kết quả

Sự mất cân đối trong chuỗi giá trị du lịch là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến các bất cập nói trên. Phần lớn lợi nhuận tour trọn gói thuộc về các doanh nghiệp lữ hành ngoài địa phương, trong khi cộng đồng dân cư bản địa – chủ thể gìn giữ cảnh quan và di sản văn hóa – chỉ nhận được phần nhỏ giá trị từ dịch vụ ăn nghỉ bình dân. Tình trạng thương mại hóa tự phát khiến các sản phẩm nông sản đặc sản bản địa giảm dần về chủng loại, thay vào đó là hàng hóa nhập từ nơi khác.

Để làm nổi bật các biến động này, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu thu nhập giai đoạn 2012–2015 và biểu đồ radar đa chiều biểu diễn sự chênh lệch giữa điểm số bền vững kinh tế (đạt mức cao) so với bền vững văn hóa và môi trường (ở mức trung bình thấp). Kết quả nghiên cứu tại Chiềng Châu hoàn toàn tương đồng với các cảnh báo học thuật quốc tế: khi du lịch nông thôn phát triển quá nhanh mà thiếu quy hoạch điều tiết, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn sẽ lấn át mục tiêu bảo tồn tài nguyên lâu dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, về kinh tế, cần hoàn thiện chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu nông sản đặc sản. UBND huyện Mai Châu phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thiết lập chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu chứng nhận cho gạo nếp nương, rượu cần và sản phẩm dệt thổ cẩm Chiềng Châu trong giai đoạn 2016–2018. Đồng thời, xây dựng quy chế liên kết bắt buộc giữa 5 doanh nghiệp lữ hành trọng điểm với các hợp tác xã du lịch cộng đồng, bảo đảm tối thiểu 35% đến 40% chi tiêu của du khách được giữ lại trực tiếp cho người dân bản địa trước năm 2020.

Thứ hai, về văn hóa - xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Mai Châu cần ban hành ngay khung quy chuẩn kiến trúc nhà sàn Thái cổ tại bản Lác; hỗ trợ tài chính từ 20 đến 30 triệu đồng/hộ để phục dựng, tu bổ nhà sàn gỗ nguyên bản. Phục dựng định kỳ 100% các lễ hội truyền thống đặc sắc như Lễ hội Xên Bản, Xên Mường, Lễ hội Cầu Mưa từ năm 2017. Xây dựng mới 01 Nhà trưng bày không gian văn hóa Thái tại Chiềng Châu và triển khai các lớp dạy chữ Thái cổ cho 100% thanh thiếu niên địa phương.

Thứ ba, về sinh thái và môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mai Châu cần xúc tiến dự án đầu tư 01 lò đốt rác thải sinh hoạt đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia với công suất xử lý 5 đến 10 tấn/ngày cho xã Chiềng Châu trong giai đoạn 2017–2019, chấm dứt hoàn toàn việc xả rác cạnh suối. Tiến hành nghiên cứu xác lập ngưỡng sức chứa sinh thái tối đa không quá 1.000 lượt khách lưu trú/ngày đêm tại bản Lác nhằm giảm thiểu áp lực xả thải.

Thứ tư, về thể chế và phát triển nguồn nhân lực, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện tổ chức tối thiểu 10 khóa đào tạo ngắn hạn về kỹ năng hướng dẫn viên tại điểm, quản trị homestay và tiếp thị số cho hơn 80% hộ kinh doanh du lịch trước năm 2020, hình thành mô hình du lịch cộng đồng chuyên nghiệp, văn minh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước tại các Sở Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các huyện miền núi. Luận văn cung cấp khung tiêu chí khoa học và bài học thực tiễn trong việc lồng ghép 19 tiêu chí Nông thôn mới với phát triển du lịch bền vững.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp lữ hành, nhà đầu tư du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng. Dữ liệu khảo sát từ 5 doanh nghiệp và 30 hộ dân giúp các đơn vị thiết kế tour du lịch trải nghiệm có trách nhiệm, xây dựng mô hình chia sẻ lợi ích hài hòa với cộng đồng để phát triển kinh doanh lâu dài.

Nhóm thứ ba là ban quản lý các hợp tác xã nông nghiệp, tổ hợp tác dệt thổ cẩm và các hộ gia đình kinh doanh dịch vụ homestay. Công trình mang đến cẩm nang thực tiễn về phương thức cải tạo cơ sở lưu trú đạt chuẩn mà không phá vỡ kiến trúc truyền thống, cách thức tiếp thị sản phẩm thủ công và xử lý chất thải sinh hoạt nông thôn.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Khoa học bền vững, Quản lý du lịch, Địa lý kinh tế và Xã hội học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu liên ngành, quy trình xử lý dữ liệu hỗn hợp và cách tiếp cận chuỗi giá trị du lịch miền núi tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống tiêu chí đánh giá tính bền vững của du lịch nông thôn trong luận văn bao gồm những trụ cột nào? Hệ thống tiêu chí được xây dựng trên 3 trụ cột chính: Kinh tế (biến động cơ cấu, thu nhập hộ, chuỗi giá trị), Văn hóa - Xã hội (bảo tồn nhà sàn, trang phục, lễ hội, tỷ lệ hộ nghèo, việc làm phụ nữ) và Môi trường sinh thái (chất lượng cảnh quan, xử lý rác thải, nước thải và biến đổi khí hậu).

Phát triển du lịch nông thôn đã mang lại chuyển biến kinh tế cụ thể nào cho xã Chiềng Châu? Du lịch giúp nâng thu nhập bình quân đầu người từ 9,964 triệu đồng năm 2012 lên 19,545 triệu đồng năm 2015, đưa tỷ trọng dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp chiếm trên 71% tổng thu nhập toàn xã, nhiều hộ homestay đạt doanh thu 100–150 triệu đồng/năm.

Những nguy cơ lớn nhất đối với bản sắc văn hóa dân tộc Thái tại bản Lác hiện nay là gì? Nguy cơ nổi cộm là sự biến dạng kiến trúc nhà sàn truyền thống khi trên 60% hộ cải tạo chia phòng nhỏ hoặc xây nhà bê tông, trang phục dân tộc ít được mặc hàng ngày và các lễ hội dân gian như Xên Bản, Xên Mường có nguy cơ mai một.

Luận văn đưa ra giải pháp trọng tâm nào để xử lý ô nhiễm môi trường tại điểm du lịch? Nghiên cứu kiến nghị đầu tư xây dựng lò đốt rác sinh hoạt đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia công suất 5–10 tấn/ngày tại xã Chiềng Châu giai đoạn 2017–2019, di dời bãi rác ven suối và khống chế ngưỡng sức chứa tối đa 1.000 khách/ngày.

Mô hình du lịch nông thôn tại Chiềng Châu có thể áp dụng cho các địa phương miền núi khác không? Mô hình hoàn toàn có thể nhân rộng tại các vùng đồng bào thiểu số miền núi phía Bắc nhờ bài học thực tế về phát huy nội lực cộng đồng, phát triển làng nghề dệt thổ cẩm gắn với homestay và phương pháp liên kết chuỗi giá trị bền vững.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập thành công hệ thống tiêu chí khoa học toàn diện để đánh giá tính bền vững của du lịch nông thôn miền núi trên ba chiều kích: Kinh tế, Văn hóa - Xã hội và Môi trường.
  • Khẳng định vai trò động lực then chốt của du lịch nông thôn trong việc đưa xã Chiềng Châu hoàn thành 19/19 tiêu chí Nông thôn mới và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5,08% vào cuối năm 2015.
  • Chỉ rõ những thách thức cấp bách về sự biến dạng kiến trúc nhà sàn truyền thống của người Thái, bất cập trong khâu tiếp thị thổ cẩm và nguy cơ ô nhiễm môi trường từ bãi rác ven suối Mùn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ, xác định rõ chủ thể thực hiện và lộ trình thực thi cụ thể cho giai đoạn 2016–2020 nhằm hài hòa lợi ích chuỗi giá trị và bảo tồn sức chứa sinh thái.
  • Định hướng các nghiên cứu tiếp theo về ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý điểm đến và xây dựng các mô hình nông nghiệp sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Tây Bắc.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp bức tranh thực nghiệm xác thực và luận cứ thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị du lịch địa phương. Lộ trình hành động ưu tiên trong 12 đến 24 tháng tới là triển khai quy chế chuẩn hóa kiến trúc homestay và đầu tư hoàn thiện hạ tầng xử lý rác thải đạt chuẩn. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng bản địa cần chung tay hành động ngay hôm nay để đưa Mai Châu trở thành điểm sáng kiểu mẫu về du lịch nông thôn bền vững của cả nước.